CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN 1. Khái niệm động cơ, động lực và các yếu tố cấu thành nên động lực 1. Động lực và tạo động lực là gì? Động lực Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009) có chỉ ra “ Động lực của NLĐ là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [16, tr85] Khi bàn về động lực người lao động ta thấy động lực lao động có những bản chất sau: Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và mô trường làm việc, không có động lực chung không gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực không phải thuộc về tính cách cá nhân mỗi con người. Động lực của cá nhân trong tổ chức tùy thuộc vào đặc điểm cũng như môi trường làm việc của cá nhân mỗi cá nhân đó. Nếu như các nhân tố khác không đổi thì khi tổ chức tạo động lực cho nhân viên sẽ thôi thúc con người làm việc và giúp họ làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng là để thỏa mãn mong muốn của bản thân người lao động. Trên lý thuyết tồn tại hai loại động lực: động lực bên trong và động lực bên ngoài.
Động lực bên trong thường mạnh mẽ hơn động lực bên ngoài vì nó xuất phát từ bên trong cá nhân, không chịu sự đè nén hay ép buộc bởi bất cứ cá nhân hay luật lệ nào. Tạo động lực Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009) có nêu “Tạo động lực lao động là việc vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh 6 nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng hơn với công việc”[ 16, tr87] Tạo động lực nói theo cách khác là giúp người lao động hài lòng được nhu cầu của họ. Trên thực tế không có nhu cầu là hoàn toàn hài lòng khi nhu cầu này được đảm bảo thì người lao động có xu hướng chuyển lên nhu cầu có mức độ cao hơn. Nhu cầu có ảnh hưởng tích cực đến động lực người lao động.
Tổ chức cần phải có những biện pháp, chính sách để cho người lao động hài lòng được nhu cầu của họ giúp tạo động lực cho họ. Nếu không hài lòng với nhu cầu thì người lao động có xu hướng dời bỏ hoặc không gắn bó với tổ chức. Các nhà quản trị muốn xây dựng cơ quan, tổ chức mình hiệu quả, thành công thì luôn phải chú trọng đến nhân viên để họ có gắng hết sức phát huy năng lực cá nhân mang lại lợi ích cho xí nghiệp. Thông qua các việc hoạch định chính sách đãi ngộ cho nhân viên, các chính sách lương thưởng hay khích lệ về tinh thần của nhân viên, môi trường làm việc kích thích năng lượng.
Để làm được điều đó nhà quản trị cần phải hiểu rõ người lao động cần gì, hướng đến những mục tiêu gì, mục tiêu và nhu cầu để đánh mạnh vào những điểm lợi của họ làm cho người lao động tự nguyện đánh đổi, cống hiến sức lực của bản thân. Bản chất của tạo động lực là cung cấp các yếu tố thỏa mãn lợi ích của người lao động: Tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động lực thúc đẩy người lao động làm việc. Nhà quản trị muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động, đồng thời tạo ra mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất.Tóm lại, bản chất của tạo động lực là hệ thống các biện pháp mang tính đòn bẩy về vật chất và tinh thần nhằm kích thích thúc đẩy người lao động làm việc với năng suất chất lượng cao. Như vậy, về bản chất của tạo động lực trong lao động chính là tạo sự quan tâm của người lao động đối với kết quả lao động cuối cùng của công ty.
Mối quan tâm của người lao động tới công việc càng cao thì động lực lao động cũng càng lớn. Những yếu tố tạo động lực cho nhân viên trong doanh nghiệp Để thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân viên trong tổ chức. Chủ doanh nghiệp, nhà quản trị cần nghiên cứu để tìm ra những đặc điểm, nhân tố ảnh hưởng đến người lao động. Khi đó mới có thể đưa ra phương pháp cụ thể, sát với thực tiễn nhất để mang lại hiệu quả cao chứ không chỉ đơn thuần là lý thuyết.
Thực tế, dù ở khía cạnh nào thì chúng ta không thể phủ các học thuyết đều xoay quanh 3 yếu tố cơ bản sau 1. Đặc điểm cá nhân Mỗi người lao động khi sinh ra đều có cách nghĩ riêng, có người thích an nhàn công việc ổn định nhưng có người thích những công việc có độ thử thách và thăng tiến. Sau đó khi họ tham gia vào tổ chức sẽ đặt mục tiêu cá nhân của riêng cũng như phù hợp với năng lực làm việc của họ. Họ tồn tại trong tổ chức là để thực hiện mục tiêu đó.
Nếu mục tiêu mà họ đặt ra quá xa vời thì sẽ gây ra thất vọng về sau này, khi họ nhận thấy những kỳ vọng của mình vào tổ chức đã không được đáp ứng. Ngược lại, sẽ có những người lại đặt ra mục tiêu quá thấp. Do đó, khi vào làm trong tổ chức, họ thấy việc đạt được mục tiêu mà mình đề ra không mấy khó khăn. Làm cho người lao động không phát huy hết khả năng của mình trong công việc.
Tóm lại đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tạo động lực của chính bản thân người lao động. Đặc điểm công việc Đặc điểm công việc ảnh hưởng đến vấn đề tạo động lực của người lao động được xem xét trên ba khía cạnh Nội dung công việc: Người lao động sẽ cảm thấy thoải mái khi nhận được công việc như mong muốn, phù hợp với khả năng, sở trường của mình. Khi đó sẽ có những tín hiệu tốt đến năng suất lao động, hiệu quả làm việc của người lao động đồng thời sẽ tạo được sự thỏa mãn cho người lao động. Tính hấp dẫn của công việc: Người lao động sẽ cảm thấy thế nào khi nhận được một công việc không như mong muốn, không phù hợp với khả năng sở trường của họ và ngược lại.
Tính hấp dẫn của công việc tạo nên sự thoả mãn đối với công 8 việc của người lao động. Sự thoả mãn sẽ được thể hiện ở thái độ của người đó trong quá trình làm việc. Khả năng thăng tiến: Người lao động được chuyển lên vị trí cao hơn trong doanh nghiệp quá trình này được gọi là thăng tiến. Thăng tiến tạo cơ hội cho sự phát triển cá nhân, tăng uy tín, địa vị cũng như quyền lực của người lao động.
Thăng tiến thường đi kèm với lợi ích vật chất tăng lên. Đặc điểm về môi trường tổ chức Đặc điểm môi trường tổ chức được xem xét trên các mặt: Chính sách quản lý của doanh nghiệp, môi trường làm việc, quan hệ trong lao động, văn hóa kinh doanh,. Chính sách quản lý doanh nghiệp: Chính sách quản lý doanh nghiệp phải bao gồm nhiều biện pháp khác nhau vì một chính sách của doanh nghiệp tác động đến nhiều con người do vậy nó có tác động đến nhiều thái độ, hành vi của người lao động. Việc quản trị sẽ có hiệu quả nhất khi các nhà quản trị biết kết hợp đúng đắn các biện pháp, các công cụ quản lý.
Điều kiện môi trường làm việc: Môi trường làm việc tác động rất lớn đến kết quả làm việc của người lao động theo nhiều khía cạnh khác nhau như yếu tố thẩm mỹ, các cơ sở vật chất kỹ thuật, sự bố trí các phòng ban và khung cảnh làm việc. Khi bầu không khí, môi trường làm việc đảm bảo đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, có bầu không khí trong lành, an toàn sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc với tinh thần hăng say, gắn bó với tổ chức. Quan hệ trong lao động: Yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến động lực lao động, một câu hỏi đặt ra là tại sao có nhiều doanh nghiệp trả lương cao nhưng vẫn không thu hút và gìn giữ được đội ngũ lao động giỏi cho doanh nghiệp mình. Rất nhiều người lao động trả lời rằng họ không muốn làm việc trong một công ty lương cao nhưng ở đó lãnh đạo không tôn trọng, quan tâm đến đời sống của người lao động.
Văn hóa kinh doanh: Văn hóa tổ chức đóng vai trò quan trọng như một thứ động lực để khiến khích. Bản sắc văn hóa riêng sẽ trở thành chất kết dính giữa 9 thành viên và tổ chức, tạo niềm tin và tăng cường mức độ trung thành. Bởi vậy, tổ chức nên tạo mọi điều kiện để nhân viên có được càng nhiều mối liên quan với các hoạt động của mình càng tốt. Văn hóa doanh nghiệp tích cực tạo ra môi trường truyền thông lành mạnh.
Trong đó, các thành viên tận tụy và trung thành với doanh nghiệp, thân thiện và tin cậy lẫn nhau. Môi trường này được nuôi dưỡng bằng tinh thần cởi mở, hỗ trợ nhau, luôn thách thức và thưởng phạt phân minh. Sự cần thiết của vấn đề tạo đông lực cho người lao động thông qua công tác khuyến khích vật chất và tinh thần tại doanh nghiệp Lợi ích tạo ra động lực thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn, có hiệu quả hơn. Mức độ thoả mãn càng lớn thì tạo ra động lực càng nhiều và ngược lại mức độ thoả mãn càng nhỏ thì động lực tạo ra càng yêu, thậm trí bị triệt tiêu.
Như vậy giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ không thể tách rời. Nếu không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu. Nhu cầu tạo ra động cơ thúc đẩy con người tham gia lao động còn lợi ích mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc. Vì vậy, để tạo ra động lực cho ngời lao động nhà quản lý phải chú trọng tạo ra lợi ích cho người lao động phù hợp với nhu cầu mong muốn của họ.