Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp; Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển NNL tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ và Thƣơng mại TNG - Chi nhánh Phú Bình 3; Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển NNL tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ và Thƣơng mại TNG - Chi nhánh Phú Bình 3. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Nguồn nhân lực a. Khái niệm Nhân lực: Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực (thể lực, trí lực và tâm lực) của mỗi con ngƣời (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bên ngoài của con ngƣời. Cho đến một ngày, nguồn lực này đủ lớn, đáp ứng các điều kiện để con ngƣời có thể tham gia vào lao động sản xuất.
Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong DN (nguồn vốn, công nghệ, máy móc thiết bị. Nhân lực thể hiện trên ba tiêu chí là thể lực, trí lực và tâm lực, trong đó: Thể lực: Biểu hiện ở các chỉ tiêu về sức khỏe của con ngƣời trên phƣơng diện y tế nhƣ: chiều cao, cân nặng, xếp hạng sức khỏe. Thể lực phụ thuộc vào sức vóc, giới tính, độ tuổi, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. của từng NLĐ.
Trí lực: Biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng của con ngƣời. Trình độ bao gồm: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; lý luận chính trị; quản lý nhà nƣớc, tin học; ngoại ngữ. Năng lực gồm có năng lực tƣ duy và năng lực thực thi, thừa hành. Năng lực tƣ duy chia thành các cấp độ khác nhau nhƣ: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo….
Kỹ năng gồm: kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, lập kế hoạch, phân công và phối hợp, làm việc nhóm, điều hành hội họp… Ngoài ra, nếu ngƣời lao động giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn cần có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; tập hợp, đoàn kết. Tâm lực: Biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong công việc của NLĐ. Thái độ và trách nhiệm là trạng thái tâm lý của NLĐ, đƣợc thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi, hành động cụ thể nhƣ: lời nói, việc làm, cử chỉ…Do vậy, tâm lực thƣờng đƣợc đánh giá thông qua tiêu chí: phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của NLĐ. Tâm lực tạo ra động lực lao động sáng tạo, đóng góp cho lợi ích của tổ chức, cho bản thân NLĐ và đồng nghiệp.
Qua phân tích có thể thấy, con ngƣời là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Do vậy, khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ góp 5 phần tạo nên thành công của mỗi đơn vị. Trong SXKD truyền thống, các tiềm năng về thể lực của con ngƣời đã đƣợc khai thác triệt để. Tuy nhiên, sự khai thác tiềm năng trí lực, tâm lực của con ngƣời đặc biệt là trong thời kỳ CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay còn ở mức mới m vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của con ngƣời.
Do vậy, để nâng cao năng suất, chất lƣợng, các tổ chức cần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho NLĐ. Nguồn nhân lực: Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khái niệm “nguồn nhân lực” dƣới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể nhƣ sau: Theo Nguyễn Tiệp (2006): Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động, không phân biệt ngƣời đó đang đƣợc phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Ngân hàng thế giới (2000) cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Nhƣ vậy, ở đây nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo trích dẫn của Ngô Thƣợng Tú (2020) từ Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực là toàn bộ số ngƣời trong độ tuổi có khả năng lao động. Theo đó, NNL đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008) thì: NNL là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Các khái niệm trên phần nào phản ánh nội hàm rất rộng của khái niệm NNL. Trong đó, khía cạnh khả năng sáng tạo nên đƣợc nhìn nhận nhƣ một đặc trƣng riêng và chỉ có ở nguồn lực con ngƣời. Đó chính là điểm mấu chốt biểu hiện tiềm năng vô hạn của NNL; cũng nhƣ, thuyết phục chúng ta rằng đầu tƣ phát triển NNL là hƣớng đi đúng đắn nhất, đặc biệt trong bối cảnh các nguồn lực khác khó khăn hay ngày càng cạn kiệt nhƣ hiện nay.
6 Mặc dù vậy, các khái niệm đã nêu chủ yếu tập trung mô tả NNL trong giới hạn của xã hội hay của một cộng đồng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đặt trọng tâm nhiều hơn vào vấn đề nguồn nhân lực trong một tổ chức, doanh nghiệp. Có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này: Theo Bùi Văn Nhơn (2006): NNL trong DN là lực lƣợng lao động của từng DN, là số ngƣời trong danh sách của DN và do DN trả lƣơng Tuy nhiên, Luật lao động (2019) cho phép DN thuê lại lao động, do vậy, sẽ tồn tại một bộ phận lao động làm việc tại DN, là nguồn lực đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của DN, nhƣng không thuộc danh sách DN đó trực tiếp quản lý và trả lƣơng. Do đó, trong tình hình mới, định nghĩa trên cần mở rộng nhiều hơn để phù hợp với tình hình thực tế.
Theo Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010): Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Trong định nghĩa này chúng ta cũng lƣu ý phân biệt nguồn nhân lực và nhân lực. Hai thuật ngữ có liên quan mật thiết nhƣng có sự khác biệt nhất định nhƣ sau: Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời, nguồn lực này bao gồm cả thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sắc vóc, tình trạng sức khỏe của từng ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngời, chế độ y tế.
Thể lực con ngƣời phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con ngƣời (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Trong SXKD truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con ngƣời đã đƣợc khai thác tối đa. Trong khi đó, sự khai thác tiềm năng về trí lực của con ngƣời còn rất nhiều tiềm năng.
Một trong những hoạt động làm gia tăng trí lực của ngƣời lao động là hoạt động đào tạo, phát triển nhân lực. Trong khi đó, nguồn nhân lực của DN đề cập đến toàn bộ ngƣời lao động bao gồm số lƣợng, chất lƣợng và tiềm năng của đội ngũ ngƣời lao động, phù hợp và đáp ứng đƣợc yêu cầu của chiến lƣợc phát triển DN trong một thời kỳ nhất định. Tiềm năng đó bao gồm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của ngƣời lao động có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu và nhiệm vụ của DN. Đặc điểm của nguồn nhân lực trong DN Nguồn nhân lực của DN có một số đặc điểm chính nhƣ sau.
- Thứ nhất, NNL là đầu vào quan trọng nhất, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN. Từ cách tiếp cận của kinh tế học, nguồn lực của DN có thể đƣợc chia thành 3 nhóm 7 chính là lao động (nhân lực), tƣ bản và tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay, khi xã hội đang bƣớc sang thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, các yếu tố công nghệ, vốn, tài nguyên thiên nhiên đang giảm dần vai trò của nó, và nhân tố lao động, đặc biệt là tri thức chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Do vậy, DN cần có chiến lƣợc đầu tƣ hiệu quả để xây dựng và phát triển NNL có chất lƣợng cao.
- Thứ hai, NNL đảm bảo cho khả năng sáng tạo của tổ chức. DN có thể sở hữu rất nhiều các nguồn lực đầu vào, tuy nhiên, chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh đó. Nói cách khác, không có con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt đến mục tiêu. - Thứ ba, NNL là nguồn vô tận.
Do vậy, nếu DN biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời. - Thứ tư, NNL tại các DN hiện nay còn có sự chênh lệch về giới tính, tỷ lệ nam - nữ giữa một số đơn vị đặc thù. Chẳng hạn, với doanh nghiệp may thì tỷ lệ lao động nữ luôn cao hơn so với nam giới vì việc may mặc phù hợp với sự cẩn thận, khéo léo của lao động nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ giới lớn cũng gây khó khăn nhất định cho DN do nữ giới phải thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ nên thời gian làm việc có thể không kéo dài liên tục; sức khỏe của lao động nữ cũng thƣờng yếu hơn nam giới…; 1.