CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Cán bộ là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các cơ quan nhà nước.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2001), thuật ngữ cán bộ được hiểu theo hai nghĩa: Một là, người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, đoàn thể; hai là, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan nhà nước, một tổ chức, phân biệt với những người không có chức vụ [ 41, tr.109] Ở nước ta, thuật ngữ cán bộ được hình thành và ngày càng được hoàn thiện hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1992 và Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 quy định chung như sau: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [39]. Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã [40]. Đến tháng 11 năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức trong đó quy định rõ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [17]. 5 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [17].
Cán bộ cấp xã gồm có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Công chức Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và ngày càng hoàn thiện theo thời gian: ban đầu là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành về quy chế công chức- trong đó quy định công chức gồm những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong hệ thống cơ quan Chính Phủ [6]. Ngày 25/5/1991 hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT trong đó quy định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”[10]. Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời năm 1998 và Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng và quản lý công chức đã chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng của công chức nhà nước: Là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường 6 Thang Long University Libraty xuyên; được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn; được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước đã đưa ra quan niệm về công chức như sau: ““Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, làm việc trong cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội” [3]. Công chức cấp xã gồm những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, với các chức danh: Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính – xây dựng; Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội [4]. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11 năm 2008 đã đưa ra khái niệm cụ thể về công chức cấp xã. Theo đó, “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức cấp xã gồm có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội”.7-8] 7 Công chức hành chính cấp xã, phường Công chức hành chính là công chức làm việc trong Bộ máy hành chính nhà nước bao gồm: Cơ quan quyền lực nhà nước; tòa án; viện kiểm soát; bộ máy Chính phủ, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước; cơ quan tổ chức Đảng, tổ chức chính trị, cơ quan Đoàn thể của Nhà nước trong hệ thống chính trị của Nhà nước được xếp vào ngạch công chức hành chính thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, thực thi công vụ của nhà nước. Đặc điểm của cán bộ, công chức hành chính cấp xã, phường: Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò to lớn và trách nhiệm hết sức nặng nề trong hệ thống quản lý nhà nước. Họ là những người gần dân, sát dân, hiểu dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến dân, gắn bó với nhân dân. Cán bộ, công chức cấp xã chịu sự giám sát trực tiếp của dân, gắn bó với lợi ích của gia đình, họ tộc, có quan hệ họ hàng, láng giềng.
Họ thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp giáo dục, động viên và tổ chức thực hiện pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Họ là những người trực tiếp đưa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, biến chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực. Cán bộ công chức cấp xã, ngoài phẩm chất chính trị, cần phải có trình độ, năng lực nhất định và cần nhất là phải tạo dựng được uy tín trong cộng đồng dân cư. Đào tạo cán bộ, công chức Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho cán bộ, công chức có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó là quá trình học tập làm cho cán bộ, công chức nắm vững hơn về công việc của mình. Sau mỗi quá trình đào tạo người học được cấp bằng: bằng lý luận chính 8 Thang Long University Libraty trị cao cấp, bằng cử nhân chính trị, đào tạo sau đại học. Thông thường đào tạo là quá trình trang bị kiến thức mới hoặc ở trình độ cao hơn, khóa đào tạo ít nhất từ 09 tháng trở lên. Đào tạo khác với bồi dưỡng.
Bồi dưỡng là quá trình truyền thụ làm tăng thêm kiến thức mới đối với những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc công chức nhất định. Sau mỗi khóa bồi dưỡng người học nhận được chứng chỉ ghi nhận kết quả: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, ngạch chuyên viên cao cấp, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Thời gian bồi dưỡng thường kéo dài trong khoảng thời gian dưới ba tháng. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chỉ diễn ra trong phạm vi nguồn nhân lực trong bộ máy cơ quan nhà nước, chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức.
Đây là điểm khác biệt giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với đào tạo trong chương trình giáo dục quốc dân (giáo dục quốc dân cung cấp nguồn nhân lực trí tuệ cho toàn xã hội, trong đó có cả nguồn dự trữ nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước). Đôí với công chức mới được tuyển dụng, đào tạo là việc rất cần thiết bởi họ thường chưa thích nghi nhiều với công việc mới, chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Lúc này, thường áp dụng hình thức đào tạo kèm cặp, chỉ bảo: học thông qua trực tiếp công việc với sự hướng dẫn của cán bộ, công chức hiện đang làm việc và có nhiều năm công tác, kinh nghiệm sẽ giúp đỡ, hướng dẫn và kèm cặp họ trong quá trình làm việc nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ý nghĩa của công tác đào tạo cán bộ công chức 1.
Đối với tổ chức Việc đào tạo, bồi dưỡng sẽ đảm bảo cho cán bộ, công chức có thể thích ứng và theo sát sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tình hình chính trị thời 9 kỳ mới, tạo ra một lực lượng lao động có trình độ cao hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Đồng thời việc đào tạo, bồi dưỡng góp phần xây dựng lực lượng công chức xã (phường) chuyên nghiệp, trong sạch, vững mạnh góp phần vào việc phát triển xã hội. Đào tạo cán bộ công chức có vai trò rất quan trọng, được xem như là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng được nhu cầu tồn tại của tổ chức. Đối với cán bộ, công chức Trong thời kỳ nền kinh tế, chính trị có nhiều thay đổi, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cán bộ, công chức luôn phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để không bị tụt hậu.
Đào tạo, bồi dưỡng giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc, phát huy khả năng từng người giúp cán bộ, công chức thích ứng với công việc. Để thực hiện thành công công cuộc cải cách, hiện đại hóa nhiệm vụ cần đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng lực lượng cán bộ, công chức chuyên nghiệp, trong sạch, vững mạnh.