Hoàn thiện công tác cung ứng nguyên vật liệu tại công ty Dệt 19/5 Hà Nội

Nâng cao hiệu quả cung ứng nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19-5 Hà Nội, đảm bảo chất lượng và tiến độ sản xuất.

Trường đại học

Cao đẳng Công nghiệp

Chuyên ngành

Công nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Chuyên đề tốt nghiệp

2023

78
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Dệt 19/5 Hà Nội

1.1.1. Thông tin chung về công ty

1.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp

1.1.3. Các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CUNG ỨNG NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI

Tóm tắt

I. Tổng quan về cải thiện cung ứng nguyên vật liệu tại Dệt 19 5 Hà Nội

Công ty Dệt 19/5 Hà Nội là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành dệt may tại Việt Nam. Việc cải thiện cung ứng nguyên vật liệu là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Nguyên vật liệu không chỉ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất mà còn quyết định đến khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường. Do đó, việc tối ưu hóa quy trình cung ứng nguyên vật liệu là cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng cao.

1.1. Tầm quan trọng của nguyên vật liệu trong ngành dệt

Nguyên vật liệu là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm dệt. Việc quản lý chuỗi cung ứng nguyên vật liệu hiệu quả giúp giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, trong ngành dệt may, nguyên vật liệu bền vững và chất lượng cao là rất quan trọng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

1.2. Thực trạng cung ứng nguyên vật liệu tại Dệt 19 5

Hiện tại, công ty Dệt 19/5 đang gặp nhiều khó khăn trong việc cung ứng nguyên vật liệu. Sự khan hiếm nguyên vật liệu trong nước và giá cả cao đã ảnh hưởng đến quá trình sản xuất. Công ty cần có những giải pháp hiệu quả để cải thiện tình hình này.

II. Những thách thức trong quản lý cung ứng nguyên vật liệu

Quản lý cung ứng nguyên vật liệu tại Dệt 19/5 Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức. Tình hình thị trường nguyên vật liệu biến động liên tục, cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đã tạo ra áp lực lớn cho công ty. Việc thiếu hụt nguyên vật liệu chất lượng cao và chi phí cao cũng là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Biến động giá cả nguyên vật liệu

Giá cả nguyên vật liệu thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Công ty cần có chiến lược mua sắm hợp lý để giảm thiểu tác động của biến động giá cả đến hoạt động sản xuất.

2.2. Khó khăn trong việc tìm kiếm nhà cung cấp

Việc tìm kiếm nhà cung cấp đáng tin cậy và có khả năng cung cấp nguyên vật liệu chất lượng cao là một thách thức lớn. Công ty cần tăng cường hợp tác với các nhà cung cấp để đảm bảo nguồn cung ổn định.

III. Phương pháp cải thiện quy trình cung ứng nguyên vật liệu

Để cải thiện quy trình cung ứng nguyên vật liệu, Dệt 19/5 cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại. Việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng cường hợp tác với các nhà cung cấp sẽ giúp công ty nâng cao hiệu quả hoạt động.

3.1. Tối ưu hóa quy trình sản xuất

Cải tiến quy trình sản xuất giúp giảm thiểu lãng phí và tăng cường hiệu quả. Công ty cần áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình làm việc để nâng cao năng suất.

3.2. Tăng cường hợp tác với nhà cung cấp

Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp giúp đảm bảo nguồn cung nguyên vật liệu ổn định và chất lượng. Công ty nên xem xét các hợp đồng dài hạn để giảm thiểu rủi ro.

IV. Ứng dụng công nghệ trong quản lý cung ứng nguyên vật liệu

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản lý cung ứng nguyên vật liệu. Việc áp dụng các phần mềm quản lý và công nghệ thông tin sẽ giúp công ty theo dõi và quản lý nguồn cung hiệu quả hơn.

4.1. Sử dụng phần mềm quản lý chuỗi cung ứng

Phần mềm quản lý chuỗi cung ứng giúp theo dõi tình trạng nguyên vật liệu và dự báo nhu cầu. Điều này giúp công ty chủ động hơn trong việc quản lý nguồn cung.

4.2. Ứng dụng công nghệ tự động hóa

Công nghệ tự động hóa trong sản xuất giúp giảm thiểu sai sót và tăng cường năng suất. Công ty cần đầu tư vào công nghệ mới để nâng cao hiệu quả sản xuất.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy việc cải thiện cung ứng nguyên vật liệu có thể mang lại nhiều lợi ích cho Dệt 19/5. Việc áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả sẽ giúp công ty nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất.

5.1. Lợi ích từ việc cải thiện cung ứng

Cải thiện cung ứng nguyên vật liệu giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công ty trên thị trường.

5.2. Kết quả thực tiễn từ các giải pháp đã áp dụng

Các giải pháp đã được áp dụng tại Dệt 19/5 đã mang lại kết quả tích cực. Doanh thu và lợi nhuận của công ty đã tăng lên đáng kể nhờ vào việc cải thiện quy trình cung ứng.

VI. Kết luận và hướng đi tương lai cho Dệt 19 5

Cải thiện cung ứng nguyên vật liệu là một trong những yếu tố quan trọng giúp Dệt 19/5 phát triển bền vững. Công ty cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ và cải tiến quy trình để đáp ứng nhu cầu thị trường.

6.1. Định hướng phát triển bền vững

Công ty cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc cải thiện chất lượng nguyên vật liệu và quy trình sản xuất.

6.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác với các đối tác quốc tế sẽ giúp Dệt 19/5 mở rộng thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh. Công ty cần tìm kiếm cơ hội hợp tác để phát triển hơn nữa.

25/07/2025
Hoàn thiện công tác cung ứng nguyên vật liệu tại công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên dệt 19 5 hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI 1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Dệt 19/5 Hà Nội 1. Thông tin chung về công ty  Tên doanh nghiệp: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Nhà Nước Một Thành Viên Dệt 19/5 Hà Nội.  Tên giao dịch tiếng anh: Ha Noi 19-May Textile Company.

 Tên giao dịch viết tắt: HATEXCO  Trụ sở chính: số 203 Nguyễn Huy Tưởng-Thanh Xuân-Hà Nội.585393  Email: Hatex_co@hn.vn  Số đăng ký kinh doanh: 108747 cấp ngày 28/7/1993  Tài khoản ngân hàng: 0021000000738. Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội-chi nhánh Thành Công. Cục thuế thành phố Hà Nội  Tổng Giám Đốc công ty: Đỗ Văn Minh.  Hình thức pháp lý: Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên-là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội với 100% vốn nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được đăng ký và hoạt động theo luật doanh nghiệp, luật doanh nghiệp nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt.

Quá trình hình thành và phát triển của công ty dệt 19/5 Hà Nội Công ty Dệt 19/5 Hà Nội tự hào là một doanh nghiệp sản xuất vải kỹ thuật hàng đầu của Việt Nam. Trong thời kỳ cải tạo công thương nghiệp(1959-1960) là thời kỳ Miền Bắc nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước khôi phục kinh tế, sản xuất mở rộng, công thương nghiệp bước đầu phát triển. Do đó trong với một số ngành yểu tố SV: Somxay Vatthana 4 Lớp: Công nghiệp 46A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp nguyên vật liệu đầu vào trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Công Ty Dệt 19/5 Hà Nội đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó.

Tiền thân của công ty là một cơ sở được hợp nhất từ một số cơ sở tiền thân như: công ty Việt Thắng, Hoà Bình, Tây Hồ. Đến nay, công ty đã gần tròn 50 năm trưởng thành và phát triển, với sự thay đổi không ngừng về mọi mặt của đất nước. Công ty trải qua các giai đoạn phát triển như sau: a. Giai đoạn thành lập 1959-1964 Đây là giai đoạn công ty được hình thành từ một nhóm các cơ sở tư nhân chuyên sản xuất tất, dệt kim.

Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập, các cơ sở nhỏ lẻ sát nhập lại thành công ty hợp doanh và đã được Thành Phố Hà Nội công nhận là xí nghiệp quốc doanh Dệt 8/5-kỷ niệm ngày họp Quốc Hội đầu tiên kỳ họp thứ hai nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ngày đầu thành lập Nhà Máy có cơ sở ở số 4 ngõ 1 Hàng Chuối với diện tích hơn 2000m2. - chủ yếu là thiết bị máy móc lạc hậu, thủ công, quy mô sản xuẩt nhỏ. Sản phẩm chính là dệt bít tất và cá loại vải: Kaki, phin kẻ, Popơlin, khăn mặt…theo chỉ tiêu của nhà nước, phục vụ cho Quốc Phòng và Bảo Hộ Lao Động.

- Số lượng công nhân viên: 250 người. - Sản lượng tiêu thụ mỗi năm tăng dần từ 10 đến 15%. Năm 1964 đất nước có chiến tranh với Mỹ, thực hiện chủ trương của thành phố, nhà máy sơ tán về thôn Văn xã Thanh Liệt-Thanh Trì. Ở chế độ sản xuất thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, làm nhiệm vụ se sợi và dệt vải bạt.

Nhà máy xin nhà nước được nhập thêm 50 máy dệt Trung Quốc. Giai đoạn 1965-1988 Năm 1965 Xí nghiệp Dệt 8/5 đổi tên thành Xí nghiệp Dệt Bạt Hà Nội. Thời kỳ này doanh nghiệp vẫn nằm trong sự bao cấp của nhà nước, sản xuất và tiêu thụ mặt hàng của mình một cách ổn định, chủ yếu sản xuất vải bạt cho nhà nước, phục vụ cho quốc phòng và một số ngành khác. Năm 1967 thành phố tách bộ phận dệt SV: Somxay Vatthana 5 Lớp: Công nghiệp 46A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp bít tất của nhà máy thành xí nghiệp Dệt Kim Hà Nội.

Vì vậy sản phẩm chính của công ty là vải bạt các loại. Vào năm 1980, cơ sở mới được xây dựng ở Nhân Chính-Thanh Xuân, và là cơ sở chính hiện nay với diện tích 4. Quá trình xây dựng cơ bản từ năm 1981 đến năm 1985 thì hoàn thành và đi vào hoạt động. Đây là giai đoạn phát triển hoàng kim nhất của Dệt 19/5, số lượng máy móc được đầu tư thêm trên 100 máy dệt UTAS nhập ở Tiệp Khắc; số máy thực tế sử dụng hơn 200 máy, công nhân tăng lên nhanh chóng từ 250 công nhân đã lên tới 2500 công nhân, ngày làm 3 ca với năng suất đạt 1.

Năm 1982, một vinh dự lớn mang đến cho nhà máy là được UBND thành phố Hà Nội quyết định nhà máy được vinh dự mang tên ngày sinh nhật Bác “Nhà máy dệt 19/5 Hà Nội. Giai đoạn từ 1989-1999 Đây là thời kỳ khó khăn, thời kỳ đất nước chúng ta chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hưỡng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà Nước. Nhà máy thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, làm các nghĩa vụ đối với nhà nước. Trước cơ chế thị trường mới nhà máy không khỏi bỡ ngỡ và cũng không ít khó khăn.

Nhu cầu vải bạt, sản lượng tiêu thụ của nhà máy đã giảm xuống chỉ còn 1 triệu mét/năm, số lượng công nhân sụt giảm từ 2500 công nhân còn 300 công nhân, khách hàng bị mất dần, Nhà máy kéo dài sự tồn tại tên tuổi bằng sản xuất cả mũ, mành tre…Thị trường chính là phục vụ quốc phòng, một số khách hàng giày miền bắc. Nhà máy bị rơi vào bờ vực của sự phá sản. Không thể ngồi yên để nhìn Nhà Máy dần đi vào chỗ chết, lãnh đạo nhà máy vào Miền Nam tìm kiếm được một số nhà máy chuyên sản xuất giày vải xuất khẩu, ở thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ vải bạt dần dần khôi phục lại, tháo gỡ khó khăn nguyên vật liêu, đầu tư dây chuyền sản xuất sợi với công suất 280 tấn/năm. Tuy khó khăn là thế, nhà máy cố gắng phấn đấu dần thích ứng với cơ chế mơi, cải tiến sản xuất, đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm mới.

Qua nhiều năm thử thách, dưới sự chỉ đạo của SV: Somxay Vatthana 6 Lớp: Công nghiệp 46A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp ban lãnh đạo, nhà máy đã dần chứng tỏ được khả năng mình. Doanh thu hàng năm liên tục tăng: năm 1991 đạt 6.24 tỷ đồng, năm 1992 đạt 12. Cũng trong thời kỳ này, theo hiệp định ký với Liên Xô, nhà máy được cung cấp dây chuyền dệt kim để sản xuất quần áo, sản phẩm sản xuất ra sẽ được Liên Xô bao tiêu hoàn toàn, nhưng không bao lâu sau Liên Xô tan rã, máy móc, thiết bị nhập về chưa hoàn chỉnh thì nguồn bao tiêu lại không còn, khó khăn lại thêm khó khăn. Nhằm cải thiện tình hình này, nhà máy đã đầu tư mua thiết bị Nam Triều tiên, Nhật Bản để hoàn thiện dây chuyền sản xuất và tìm nguồn tiêu thụ mới.

Năm 1993 Nhà máy hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước và đổi tên thành “Công ty Dệt 19/5 Hà Nội”. Đây quả là sự thuận lợi cho sự phát triển của Nhà máy, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, tiếp xúc với thị trường trong nước và quốc tế. Năm 1993, với sản phẩm dệt thoi nhà máy đã đầu tư 2 máy xe năng đi vào hoạt động và sản xuất ra những lô hàng bạt nặng đầu tiên, ký hợp đồng tiêu thụ 80 nghìn mét vải bạt. Do đó doanh thu của nhà máy tăng đạt 15.71 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Để hoà mình vào guồng quay của cơ chế thị trường, giải quyết khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm, Doanh nghiệp đã chủ động liên doanh với một số công ty của Singapo, góp một phần nhà sản xuất ở Nhân Chính, chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất hàng dệt kim và hơn ½ số lao động sang Liên doanh. Đến nay gần 20 năm hoạt động sản xuất, liên doanh ngày càng lớn mạnh và đã nộp lãi về cho công ty, giải quyết việc làm thường xuyên cho 500 lao động. Từ năm 1994 đến năm 1997, công ty được cấp trên đầu tư thêm 1. Công ty đào tạo thêm 100 lao động mới, bảo đảm việc làm đầy đủ, ổn định.

Năm 1998, công ty lắp đặt thêm dây chuyền kéo sợi và dệt tự động UTAS của Tiệp tự cung cấp cho ngành dệt của công ty và một phần để kinh doanh đưa doanh thu lên 33 tỷ đồng. Đến nay công ty đã có một xưởng sợi hiện đại, đạt 1500/năm với tổng số vốn đầu tư là 50 tỷ đồng. SV: Somxay Vatthana 7 Lớp: Công nghiệp 46A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp d. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay Đây là giai đoạn công ty đã thực sự hoà nhập với nền kinh tế thị trường, là thời kỳ phát triển hoàng kim thứ hai.

Tháng 6 năm 2000, công ty đã được tổ chức quốc tế QMS cảu AUTRALIA cấp chứng chỉ ISO 9002. Tháng 12 năm 2001 công ty đã đầu tư thêm một nhà máy kéo sợi với công suất 750 nghìn tấn/năm nâng doanh thu lên tới 43 tỷ đồng. Năm 2002 đầu tư thêm nhà máy may thêu may cho cả liên doanh và bên ngoài với công suất 1250 tấn/năm Sản lượng hiện nay 1700 tấn/năm chạy 3 ca liên tục. Nhưng với lượng máy này vẫn không đủ và công ty đã đầu tư thêm ở cơ sở Hà Nam công suất 300 tấn/năm.

Năm 2003, công ty đã cho ra đời một phân xưởng may với công suất 500.000 sản phẩm/năm/ Năm 2004, công ty đã thành lập một phân xưởng thêu với công suất 600. Năm 2005 đầu tư nhà máy Dệt vải chất lượng cao với công suất 3500 mét vải/năm, khổ rộng 1m60-3m ở khu công nghiệp Đồng Văn-Hà Nam Đến tháng 9/2005 công ty dệt 19/5 Hà Nội được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội. Năm 2007 Hoàn thành nhà máy kéo sợi 3000tấn/năm tại Đồng Văn với số lượng công nhân viên 870 người. Hiên nay công ty có 4 địa điểm sản xuất:  Với diện tích 26000m 2 ở Nguyễn Huy Tưởng: trụ sở chính, nhà máy sợi, nhà máy may thêu, hai liên doanh, một liên doanh chuyên may thêu, một liên doanh chuyên giặt là, hấp.

 89 Lĩnh Nam với diện tích 8000m2, 50 máy dệt nhập của Tiệp đang sản xuất tại đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ