Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về công tác tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là nguồn lực về con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ) là ở chỗ trong quá trình vận động nguồn nhân lực chịu sự tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, tử) và yếu tố xã hội (Việc làm, thất nghiệp) chính vì vậy nguồn nhân lực là một khái niệm phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. NNL với cách hiểu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội, đó là khả năng lao động của xã hội bao gồm những người có khả năng lao động. Nguồn nhân lực có thể được hiểu là tất cả những cá nhân tham gia vào quá trình lao động mà nguồn lực của mỗi con người lại bao gồm các yếu tố về thể lực, trí lực được huy động vào lao động [Trần Kim Dung, 2000, tr. Nguồn nhân lực còn được nghiên cứu về số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng. Các chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ tới tốc độ tăng dân số. Chất lượng NNL biểu hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL (trình độ sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật) [Lê Thanh Hà, 2019, tr. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức 7 lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh [Nguyễn Tiệp, 2018, tr. Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai” [Nguyễn Công Nghiệp, 2018, tr. Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của NNL.
Xét trên bình diện quốc gia hay địa phương NNL được xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” [Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2016, tr. Theo cách hiểu này, NNL là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương. Một cách chung nhất, có thể hiểu NNL là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. NNL là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia.
Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi. Nguồn nhân lực còn được nghiên cứu về số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng.
Các chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ tới tốc độ tăng dân số. Chất lượng NNL biểu hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL (trình độ sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật). Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội. Lê Cẩm Hà (2010), theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì “nguồn lực là nguồn lực về con người và được nghiên 8 cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh”.
Như vậy, có thể khái quát lại là “Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó, có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp”. Nói tóm lại, nguồn nhân lực là bao gồm tất cả những người có khả năng lao động và những người thực tế tham gia lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Nó là một nguồn lực quý giá và quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp vì thế cần khai thác một cách hợp lý để đem lại hiệu quả cao cho quá trình sản xuất kinh doanh. Xem xét yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội, UNESCO cho rằng: “con người đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác nhân và là mục đích của sự phát triển” [Lê Cẩm Hà, 2017, tr.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã nhận định: Vốn nhân lực là kiến thức, tay nghề mà người lao động tiếp thu được thông qua quá trình giáo dục đào tạo và trong quá trình lao động; sự đầu tư cho con người trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân làm nâng cao mức sống của toàn xã hội và nhờ đó giúp tăng năng suất lao động. Đó là nhận định quan trọng mà trong những thập kỷ gần đây, các nước Châu Á đã áp dụng. Các nước này xuất phát điểm là những nước nghèo, chỉ có lao động đông và rẻ nhưng lại thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, không thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Họ đã chọn con đường đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nguồn nhân lực có trình độ cao là động lực chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước này.
Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Ở nước ta, nhận thức được vai trò động lực của nguồn nhân lực đối với việc phát triển kinh tế xã hội đất nước; Đảng ta đã chỉ đạo: “Lấy việc phát huy 9 yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững”. Từ những quan điểm đó, có thể thấy nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có những vai trò quan trọng sau: Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng.
Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận.
Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Đã có một thời nguồn lực tài chính được coi là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của doanh nghiệp, nhưng ngày nay khả năng huy động vốn với số lượng lớn trong dài hạn ngày càng thuận lợi và đơn giản hơn; đã có một thời kỳ kỹ thuật và công nghệ là vũ khí lợi hại trong cạnh tranh thì ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa đối thủ cạnh tranh cũng dễ dàng tiếp cận kỹ thuật, công nghệ mới cho dù họ có thể là kẻ đến sau. Trong thời đại kinh tế tri thức, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thể hiện ở sản phẩm, công nghệ, phương thức quản lý và tiếp thị. Doanh nghiệp 10 nào thu hút và giữ chân được nhân sự có trình độ cao, nắm được tri thức và biết sáng tạo thì doanh nghiệp đó đứng ở thế chủ động trong cạnh tranh.
Chính vì vậy, doanh nghiệp ở các nước phát triển quan niệm tiền lương, phúc lợi và chi phí cho đào tạo nguồn nhân lực là ba khoản mục đầu tư chiến lược. Nguồn nhân lực ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội: Nguồn nhân lực không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển mà nó còn giúp tạo ra các điều kiện nhằm hoàn thiện chính bản thân của con người. Mỗi giai đoạn phát triển của con người sẽ làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên và tăng thêm nguồn động lực cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Tiềm năng về vấn đề kinh tế của một đất nước phụ thuộc nhiều vào trình độ khoa học và công nghệ của nước đó, mà trình độ khoa học và công nghệ lại phụ thuộc nhiều vào những điều kiện giáo dục.
Có nhiều trường hợp thất bại nếu một nước sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến trong trường hợp tiềm lực khoa học công nghệ trong nước vẫn còn rất yếu. Sự yếu kém này thể hiện ở việc thiếu những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đi đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân các làng nghề. Điều này sẽ không ứng dụng được những công nghệ mới. Khi đó sẽ không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo nguồn nhân lực quý giá cho đất nước phát triển hoặc là phải chấp nhận chịu tụt hậu so với những nước khác.
Công tác tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.