CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN 1. Tổng quan về Hải quan 1. Khái quát về Hải Quan thế giới Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng: từ khi các quốc gia xuất hiện trên trái đất thì không một quốc gia nào có thể tồn tại hoàn toàn biệt lập không hề có một mối quan hệ nào với thế giới bên ngoài.
Trong các mối quan hệ đó, thì mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là thương mại quốc tế (hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa là quan hệ phổ biến nhất và phát triển nhất. Để quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và những hoạt động có liên quan, các quốc gia tổ chức một lực lượng “canh gác biên cương của tổ quốc về mặt kinh tế”, và lực lượng đó được gọi là Hải quan. Trong các điều kiện hội nhập, để điều hòa hoạt động của hải quan các nước, người ta đã thành lập Hội đồng Hợp tác Hải quan (Customs Cooperation Council–CCC) , nay là Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization WCO ). Lịch sử hình thành và phát triển hải quan gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, sự phát triển của quan hệ hàng hóa - tiền tệ và quan hệ kinh tế quốc tế.
Cùng với sự ra đời của các khu vực mậu dịch trên thế giới và sự phát triển của ngoại thương Hải quan đã ra đời và ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển. Quay trở lại lịch sử của hải quan ta nhận thấy rằng: Trong hoạt động của khu vực mậu dịch quốc tế đầu tiên trên trái đất tại thành Aten (Hy Lạp) đã có thuế “ IMFORLUM” đánh vào các hoạt động buôn bán tại đây thời bây giờ tất cả hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu và iPhone cũng như tàu thuyền xuất cảnh lao động tại cả đều phải nộp thuế mức thuế đánh vào hàng hóa là 1/50 tức 2% giá trị hàng hóa. Tại thành La Mã cũng có thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Thuế này được gọi là "PORTORIUM" và do một người đứng thầu.
Tại Ý, ngay từ thời đầu Trung cổ, đã có thuế “DOGANA” và ngoài ra còn cấm xuất khẩu lương thực, giữ độc quyền sản xuất và buôn muối; Về sau khi phát triển các ngành tơ tằm, thuộc da, làm nến, làm gương thì Ý cấm nhập khẩu 3 các mặt hàng trên nhưng lại miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu dùng cho các nghề này. Ở Anh, vào thế kỷ thứ 11 đã thu thuế “CUSTOMS” đánh vào hàng xuất khẩu, nhập khẩu. Ở Trung Quốc, đến đời nhà Đường thì bắt đầu thu thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, do một cơ quan gọi là “CHEPOSEN" thực hiện để kiểm soát tàu thuyền xuất cánh, nhập cảnh. Đến thế kỷ 17, nhà Thanh đặt ra danh từ Hải quan (hải ngoại quan thuế) thay cho cơ quan "CHEPOSEN" Lúc đầu thuế suất do nhà Vua đặt ra, cao hay thấp là do nhà Vua cần tiến nhiều hay ít, sau đó đến thời Khang Hy mới đặt ra biểu thuế theo từng loại hàng hóa, như đối với hàng hoa, thực phẩm hoặc đổi với quần áo, đồ dùng hàng ngày là 4% theo giá trị hàng nhập khẩu và 1% theo giá trị hàng xuất khẩu.
Khái quát về Hải Quan Việt Nam Ngày 10/9/1945, chỉ 8 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời đã ký sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và thuế gián thu - đánh dấu sự ra đời của Hải quan Việt Nam.1 Lịch sử hình thành - Năm 1955: Thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công Thương - Năm 1958: Ngành Hải quan chuyển giao trực thuộc Bộ Ngoại Thương - Năm 1960: Điều lệ Hải quan văn bản pháp quy tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về hải quan được ban hành. - Năm 1962: Đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan Trung ương. - Năm 1976: Hội nghị Hải quan toàn quốc lần thứ 1 diễn ra tại TP HCM sau ngày đất nước thống nhất. - Năm 1984: Hội đồng Nhà nước phê chuẩn Nghị quyết số 547/NQ- HĐNN thành lập Tổng cục Hải quan – cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng.
- Năm 1990: Pháp lệnh Hải quan ra đời đánh dấu giai đoạn phát triển mới. - Năm 1992: Tiếp nhận, xây dựng và tiến hành thực hiện Hệ thống tự động hóa hải quan (SYDONIA) 4 - Năm 1993: Hải quan Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng hợp tác hải quan quốc tế (CCC) nay là Tổ chức Hải quan Thế giới. - Năm 1996: Hải quan Việt Nam tham gia chính thức Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM) với tư cách là một thành viên sáng lập. - Năm 1997: Hải quan Việt Nam tham gia công ước KYOTO về đơn giản hoá hài hoà hoá thủ tục hải quan.
- Năm 2001: Quốc hội khóa X thông qua Luật Hải quan đầu tiên có hiệu lực từ ngày 1/1/2002. - Năm 2005: Chính thức triển khai thủ tục hải quan điện tử. Cũng trong năm 2005 Quốc hội ban hành Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. - Năm 2014: Luật Hải quan lần thứ 3 được ban hành thay thế Luật Hải quan 2001 và Luật Hải quan 2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan 2001.
Trong năm 2014 bắt đầu triển khai chính thức hệ thống VNACCS/VCIS trên toàn quốc. - Năm 2015: Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối kỹ thuật Cơ chế một cửa ASEAN chính thức được công bố thực hiện. - Năm 2017: Ngành Hải quan triển khai Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7. Chính thức vận hành Hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển (VASSCM).
Hải quan là một từ Việt gốc Hán, được du nhập vào nước ta từ năm 1945, khi Hải quan Trung Quốc giúp ta cải tổ lực lượng Thuế quan do thực dân Pháp để lại. Thuật ngữ Hải quan được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận. Nếu tiếp cận Hải quan với tư cách là cơ quan nhà nước thì Hải quan là cơ quan do Nhà nước thiết lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quả cảnh. Theo Công ước Kyoto "Hải quan là cơ quan của chính phủ chịu trách nhiệm thi hành Luật hai quan và thu thuế hải quan và thuế khác.
Đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi 5 hành các luật lệ khác có liên quan đến việc nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển hay lưu kho hàng hoà". Nếu tiếp cận Hải quan dưới góc độ nghiệp vụ thì Hải quan được xem xét ở các nghiệp vụ cơ bản sau: - Kiểm tra hải quan; - Giảm sát hải quan; - Kiểm soát hải quan. Nếu tiếp cận Hải quan ở góc độ kỹ thuật nghiệp vụ thì Hải quan được xem xét ở các kỹ thuật nghiệp vụ chủ yếu sau: - Phân loại, áp mã hàng hóa; - Xác định xuất xứ hàng hóa; - Xác định trị giá hải quan: - Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới; Hải quan là cơ quan do Nhà nước thiết lập, nên chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của Hải quan phải tuân theo pháp luật của quốc gia và các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động Hải quan mà quốc gia đó đã ký kết hoặc công nhận, chứ không phụ thuộc vào tên gọi của tổ chức. Cùng với bước tiến của nhân loại thì nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của Hải quan các quốc gia có thể thay đổi.
Cụ thể, trong giai đoạn đầu của thương mại quốc tế, thì chức năng chính của Hải quan là thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu - nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia. Khi các quốc gia có chính sách bảo hộ sản xuất trong nước thì Hải quan có thêm chức năng quản lý chặt chẽ các đối tượng làm thủ tục hải quan để thực hiện chính sách bảo hộ. Và giờ đây trong điều hội nhập thì hải quan phải đơn giản hoá và hải hoà hoá thủ tục hải quan giữa các nước để góp phần tích cực vào sự phát triển thương mại quốc tế và các giao lưu quốc tế.2 Chức năng và nhiệm vụ của Hải Quan Việt Nam Đối với Hải quân Việt Nam có chức năng và nhiệm vụ cụ thể như sau: - Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. 6 - Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
- Kiến nghị chủ chương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Những vấn đề cơ bản về thủ tục Hải quan 1. Khái niệm Theo công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan “thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động các hoạt động tác nghiệp mà bên liên quan và Hải quan phải thực hiện nhằm bảo đảm tuân thủ Luật hải quan.” Theo Luật hải quan Việt Nam” Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa, phương tiện vận tải." Như vậy, thủ tục hải quan được hiệu là tất cả các hoạt động tác nghiệp/các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan và các bên liên quan (như các công ty kinh doanh kho bãi, cảng vụ, các cơ quan quản lý chuyên nghành) phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Cơ sở pháp lý của thủ tục hải quan 1.1 Cơ ở pháp lý quốc tế Cơ sở pháp lý quốc tế là các văn bản do các quốc gia thỏa thuận xây dựng và thường gọi là các điều ước quốc tế, gồm các điều ước quốc tế về hải quan và các Điều ước quốc tế liên quan đến hải quan.
Các Điểu ước quốc tế về hải quan như: Công ước về thành lập Hội đồng hợp tác Hải quan (Customs Coporation Coundll - CCC), nay là Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Opinization - WCO).