mở đầu cho cuộc kháng chiến trƣờng kỳ của quân dân Hải Phòng chống lại cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp. Sau ngày 19/12/1946, quân đân cả nƣớc ta dƣới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và Trung ƣơng Đảng bƣớc vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ chống lại cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp. Để thích ứng với nhiệm vụ trong tình hình mới, lực lƣợng thuế quan cũng đƣợc điều chỉnh lại cho phù hợp. Hải quan Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (12/1946- 7/1954) a.
Thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến (12/1946-7/1951) Mặc dù chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc kháng chiến lâu dài chống lại thực dân Pháp, nhƣng sau ngày toàn quốc kháng chiến việc tập hợp lực lƣợng cũng vẫn rơi vào thế bị động. Phạm vi hoạt động của thuế quan cũng bị thu hẹp. Trƣớc tình hình chiến sự ngày càng lan rộng, Bộ Tài chính đã có Nghị định 141/BTC (ngày 12/2/1947) chia Bắc bộ thành 6 khu thuế quan. Khu I gồm Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn; Khu II gồm Hà Đông, Sơn Tây, Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu, Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý; Khu III gồm Thái Bình, Hƣng Yên, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Hải Dƣơng; Khu IV gồm Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Phúc Yên, Vĩnh Yên; Khu V gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Đình Lập, Tiên Yên, Móng Cái và khu VI – Hà Nội.
Tại Trung bộ: các đơn vị thuế quan, ngân khố nằm dƣới sự điều hành chung của Giám đốc Tài chính Trung bộ. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến (1947-7/1951) ngành thuế quan và thuế gián thu đƣợc giao nhiệm vụ mới cùng các lực lƣợng công an, dân quân du kích…. ở các vùng giáp ranh tiến hành bao vây kinh tế địch. - Giai đoạn triệt để bao vây kinh tế địch (1947-3/1948) Xuất phát từ cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính.
Đảng chủ trƣơng “phá hoại kinh tế địch bằng cách tẩy chay và quân sự phá hoại” không cho thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Theo chủ trƣơng này, mọi sự buôn bán giữa vùng tự do và vùng bị địch tạm chiếm đều “cấm chỉ”. Lực lƣợng thuế quan đƣợc bố trí tại các khu vực cửa ngõ giao lƣu với vùng địch tạm chiếm ở các thành phố thị xã, tăng cƣờng kiểm tra kiểm soát hàng hóa qua lại. Các loại hàng hóa qua lại đều bị tịch thu.
Chủ trƣơng triệt để bao vây kinh tế địch đã đạt đƣợc một số kết quả nhất định, song cũng gây cho chúng ta không ít khó khăn. Hàng hóa sản xuất trong vùng tự do không nơi tiêu thụ, khiến sản xuất vốn đã yếu kém càng trở nên đình trệ. Ngƣợc lại, những thứ hàng thiết yếu cần cho quốc kế dân sinh ngày càng trở nên hiếm hoi. Vì vậy ngoài mặt tích cực, với chủ trƣơng này, chúng ta đã tự gây ra cho mình nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội.
Ở nhiều tuyến xuất hiện các ổ buôn lậu chuyên nghiệp. Trà trộn vào trong số con buôn đó có một số gián điệp, chỉ điểm do địch cài vào để dò la tin tức của ta. Trong khi đó, việc phối hợp giữa thuế quan và các lực lƣợng chức năng tại chỗ thiếu chặt chẽ, công tác kiểm soát dần bị lơi lỏng để cho hàng hóa từ vùng địch càng có cơ hội thẩm lậu vào vùng tự do, bóp chết nền sản xuất trong vùng tự do của ta. - Giai đoạn vừa bao vây, vừa lợi dụng kinh tế địch (4/1948-7/1951) Trƣớc tình hình phức tạp do việc triệt để bao vây kinh tế địch đƣa lại, Trung ƣơng đã có điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình mới.
Liên Bộ Kinh tế - Tài chính - Nội vụ - Thƣ Pháp đã thống nhất chủ trƣơng nghiêm cấm “buôn bán hàng ngoại hóa và hàng sản xuất ở các nơi hiện đang bị địch chiếm đóng sang vùng tự do, trừ những hàng tối cần thiết cho nhu cầu cùa nhân dân” và chỉ đƣợc đƣa vào vùng địch chiếm “những hàng hóa không hại cho nền kinh tế quốc gia”. Theo thông tƣ số 14/KT/TT/NT ngày 10/9/1948 của Bộ Kinh tế, “các nhân viên thuế quan và công an khám nhận theo thủ tục hiện hành, những 15 nhân viên kinh tế có thẩm quyền có thể trực tiếp khám nhận và lập biên bản theo phép thƣờng” các vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, kết quả cũng không đƣợc khả quan. Do hình thái chiến tranh cài răng lƣợc nên việc buôn bán giữa hai vùng diễn ra rất lộn xộn, cả ta và địch đều không kiểm soát đƣợc.
Ngày 12/10/1948, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 214/SL thành lập Ban bao vây kinh tế địch Trung ƣơng đặt dƣới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, với phƣơng châm hoạt động chính là hạn chế việc nhập nội hàng hóa, chỉ cho vào những thứ tối cần thiết cho kháng chiến, tăng cƣờng việc kiểm soát mặt biển; thi hành thật linh động chính sách khép mở tiếp liệu, làm hạ giá địch vào ta, tăng giá hàng ta sang địch. Trƣớc tình hình nhiệm vụ mới, Bộ Tài chính đã có nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả công tác của ngành thuế quan nhƣ tổ chức Hội nghị Thuế quan đầu tháng 11/1949 để xem xét các vấn đề quan trọng có liên quan trực tiếp đến thuế quan, đến giáo dục chính trị tƣ tƣởng, nâng cao nhận thức phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến của nhân viên thuế quan, đề ra nhiệm vụ tuyên truyền bản chất thuế quan cách mạng và vận động nhân dân ủng hộ, giúp đỡ nhân viên thuế quan trong khi làm nhiệm vụ. Trên các địa bàn khác hoạt động của thuế quan cũng đã thu đƣợc những kết quả khả quan nhƣ ngăn chặn việc buôn bán hàng hóa xa xỉ qua đƣờng bộ và đƣờng biển, tăng cƣờng kiểm soát việc vận chuyển và tiêu thụ thuốc phiện và đã tịch thu đƣợc một lƣợng lớn ở vùng núi. Ở các tỉnh Bắc bộ, hoạt động của thuế quan sôi động và nhịp nhàng hơn, đã ngăn chặn có hiệu quả việc tƣ thƣơng đƣa hàng ngoại hóa và xa xỉ phẩm vào vùng tự do.
Thời kỳ đấu tranh kinh tế với địch một cách tích cực (1951-1954) Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951) đã nhận định “… Cần xét lại vấn đề bao vây kinh tế địch… Bao vây lợi hay hại?. Càng bao vây, buôn lậu càng phát triển, giá ngoại hóa càng cao, kéo giá nội hóa cao theo, ảnh hƣởng đến đời sống của nhân dân và đến việc cung cấp cho nhu cầu kháng chiến. Vì vậy, phải sửa đổi lại chính sách bao vây kinh tế địch”. Hội nghị TW lần thứ nhất (khóa II) tháng 3/1951đã xác định “Mục đích đấu tranh kinh tế tài chính với địch cốt làm cho địch thiếu thốn, mình no đủ, hại cho địch, lợi cho mình ”.
Trên tinh thần đó, công tác quản lý xuất nhập khẩu đƣợc đẩy mạnh theo phƣơng châm: tranh thủ trao đổi có lợi, tranh thủ xuất siêu. Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế tài chính trong điều kiện mới, ngày 17/7/1951, Bộ Tài chính ra Nghị định số 63/NĐ ấn định tổ chức Sở thuế thuộc Bộ Tài chính từ Trung ƣơng đến cơ sở gồm các cấp sau: ở TW có Sở Thuế Trung ƣơng, ở liên khu có phân sở thuế liên khu, ở tỉnh có chi sở thuế tỉnh, ở những thành phố hoặc thị trấn lớn có chi sở thuế thành phố (trực thuộc), ở huyện có phòng thuế. Ở những nơi cần thiết thì đặt cơ sở thuế xuất nhập khẩu. Ngày 15/8/1951 Thủ tƣớng Chính phủ ký nghị định 118/TTg thành lập ban quản lí xuất nhập khẩu Trung ƣơng thây thế Ban đấu tranh kinh tế với địch đã bị giải thể.
Ngày 28/4/1953, Bộ trƣởng Bộ Công Thƣơng Phan Anh ký nghị định số 42-BCT-NĐ- CB thành lập các khu quản lý xuất nhập khẩu giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, gồm 6 khu. Mỗi khu đặt một bộ máy gồm 3 cơ quan: mậu dịch xuất nhập khẩu, ngân hàng xuất nhập khẩu và Thuế xuất nhập khẩu hoạt động dƣới sự lãnh đạo của cơ sở thuế, ủy ban kháng chiến hành chính các khu, liên khu và các khu quản lý xuất nhập khẩu. Ngày 10/9/1953 Thứ trƣởng Bộ Tài chính Trịnh Văn Bính ký nghị định số 204-TC- ND thành lập các khu và chi sở thuế xuất nhập khẩu. 16 Tổ chức của ngành xuất nhập khẩu thuế gồm 4 cấp, cụ thể, ở Trƣơng có Phòng Thuế Xuất nhập khẩu thuộc Sở Thuế Trung ƣơng; ở các liên khu có phân sở thuế liên khu (có bộ phận thuế xuất nhập khẩu); ở tỉnh có ghi cơ sở thuế xuất nhập khẩu; ở cơ sở có đồn và trạm kiểm soát thuế xuất nhập khẩu.
Nhƣ vậy, từ sau khi Nghị định 63/NĐ đƣợc ban hành thì tổ chức của Sở Thuế quan và Thuế gián thu bị giải thể, thay vào đó là Phòng Thuế xuất nhập khẩu nằm trong Sở thuế Trung ƣơng. Về cơ bản, chức năng nhiệm vụ cũng nhƣ biên chế Phòng Thuế xuất nhập khẩu không có gì thay đổi so với Sở Thuế quan và Thuế gián thu cũ, nhƣng quy mô tổ chức đã bị thu hẹp lại cho phù hợp với tình hình mới. Ngoài đội ngũ cán bộ, nhân viên trong bộ máy Thuế quan và Thuế gián thu chuyển sang đảm nhiệm các công tác của Phòng Thuế xuất nhập khẩu, một số khác đƣợc điều động từ các cơ quan dân, chính, đảng. Thuế xuất nhập khẩu là công cụ để quản lý việc xuất nhập hàng hóa giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, bảo vệ và phát triển kinh tế của vùng tự do, xúc tiến việc giao lƣu hàng hóa tối cần thiết cho quân đội và nhân dân.
Các biểu thuế mới đƣợc xây dựng trên nguyên tắc độc lập tự chủ, tranh thủ trao đổi có lợi, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Danh mục hàng hóa trao đổi giữa vùng tự do với vùng tạm chiếm đƣợc tăng dần, với 124 mặt hàng xuất và 171 mặt hàng nhập đƣợc phép trao đổi. Tóm lại, lực lƣợng thuế quan Việt Nam và sau là thuế xuất nhập khẩu đã dần trƣởng thành và góp phần không nhỏ vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu bằng Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dƣơng đƣợc ký ngày 20/7/1954. Hải quan Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nƣớc (7/1954-4/1975) a.