PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Cùng với tốc độ phát triển và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, quan hệ giao lưu kinh tế giữa các nước ngày càng gia tăng, cho lưu lượng hàng hóa tham gia trên thị trường quốc tế càng đa dạng với khối lượng lớn. Nhằm tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển, cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo ổn định kinh tế và thực hiện các cam kết quốc tế khi hội nhập kinh tế toàn cầu, Nhà nước phải có những biện pháp, công cụ, chính sách quản lý phù hợp. Một trong những công cụ quan trọng là thuế.
Thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia. Việc thu thuế không đơn thuần để tạo ra ngân sách chính phủ mà còn mang nhiều ý nghĩa quan trọng về kinh tế, chính trị và xã hội, một hệ thống thuế hữu hiệu không chỉ củng cố nguồn lực tài chính công, kích thích tăng trưởng kinh tế của quốc gia mà còn góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế. Trong tổng thu ngân sách hàng năm thì nguồn thu thuế XNK chiếm gần 1/3. Tuy nhiên, khoản thu này có xu hướng bị giảm đi do một số nguyên nhân có thể kể đến như: sự quản lý yếu kém; trình độ, năng lực, biên chế và đặc thù thường xuyên luân chuyển vị trí công tác của đội ngũ CBCC thực thi nhiệm vụ tại các đơn vị Hải quan; tình trạng gian lận, trốn thuế, tránh thuế làm thất thu NSNN; tính chấp hành phát luật về hải quan của DN chưa cao; thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan trong các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam là nước thành viên đang thực thi.
Do đó, với mong muốn làm sao để có thể quản lý số thu thuế XNK một cách hiệu quả nhất, đảm bảo thu đúng thu đủ và kịp thời, chống thất thu thuế nhưng vẫn đảm bảo được tính công bằng, đảm bảo thực hiện tốt các cam kết quốc tế và chính sách kinh tế của đất nước là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của Ngành Hải quan nói chung và của Cục Hải quan tỉnh Long An nói riêng. Vì vậy tác giả chọn đề tài “Chống thất thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An” làm luận văn Thạc sĩ kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng chống thất thu thuế XNK và các giải pháp tăng cường chống thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long An.
Mục tiêu cụ thể Tổng hợp cơ sở lý luận về thu thuế xuất nhập khẩu và thống thất thu thuế xuất nhập khẩu. Phân tích thực trạng chống thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long An trong giai đoạn 2016 – 2019. Đề xuất giải pháp tăng cường chống thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long An trong thời gian tới. Đối tượng nghiên cứu Quản lý thuế XNK trong lĩnh vực Hải quan nhằm chống thất thu thuế và thực trạng chống thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long An.
Phạm vi nghiên cứu Tại Cục Hải quan tỉnh Long An, trong lĩnh vự chống thất thu thuế XNK trong giai đoạn thời gian từ năm 2016 đến năm 2019 5. Câu hỏi nghiên cứu 1. Thực trạng thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long Annhư thế nào? 2. Cần có những giải pháp nào để tăng cường chống thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Long An? 6.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính: Lý luận kết hợp với thực tiễn để nghiên cứu, gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Đồng thời tham khảo có chọn lọc, kế thừa các công trình khoa học đã công bố của các tác giả có liên quan đến đề tài, nguồn dữ liệu và thông tin được thu tập từ các website ngành, sách giáo khoa, số liệu thống kê của các cơ quan quản lý,.Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp diễn giải, phương pháp qui nạp. 3 Phương pháp nghiên cứu tình huống thực tế: Thông qua bảng câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá thực tế chống thất thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An. TỔNG QUAN VỀ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.
Thu thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm về thuế xuất nhập khẩu Theo Từ điển Kinh tế học (Anh – Việt) giải thích: “Thuế nhập khẩu (import duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước với sự cạnh tranh của nước ngoài” [11] Tuy nhiên, những khái niệm nêu trên chưa nêu hết được các đặc điểm, vai trò và chưa bao quát đối tượng chịu thuế, đặc điểm đặc thù của thuế XNK so với các loại thuế khác,. Do vậy, để khái quát tổng thể và đầy đủ khái niệm về thuế XNK phải hàm chứa những nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, thuế XNK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa.
Thứ hai, thuế XNK áp dụng cho hàng hóa được phép XNK, bao gồm cả hàng hóa XK từ thị trường trong nước vào khu chế xuất và ra nước ngoài hoặc NK từ khu chế xuất và từ nước ngoài vào thị trường trong nước. Thứ ba, thuế XNK là một trong những công cụ thuộc chính sách kinh tế thương mại quốc tế của một quốc gia. Từ đó, ta có thể định nghĩa: Thuế XNK là một loại thuế đánh vào hàng hóa XNK; một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, do các đối tượng tham gia thương mại và XNK hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho Nhà nước. Thuế XNK là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính, thương mại vĩ mô tổng hợp, gắn liền với cơ chế quản lý XNK và chính sách đối ngoại của một quốc gia.
Phân loại thuế xuất nhập khẩu * Phân loại thuế XNK dựa trên mục đích đánh thuế có 02 loại cơ bản sau: - Thuế XNK để tạo nguồn thu dựa trên nhu cầu của xã hội và mức cung của sản xuất để đánh thuế. Thông thường người ta thường đánh với mức thuế suất cao 5 đối với các mặt hàng NK mà trong nước có nhu cầu cao hoặc các mặt hàng XK mà thế giới có nhu cầu cao nhưng lượng cung còn thấp để tạo nguồn thu cho NSNN. - Thuế XNK bổ sung nhằm để tự vệ (thuế tự vệ), chống bán phá giá (thuế chống bán phá giá), chống trợ cấp (thuế chống trợ cấp) và được áp dụng trong trường hợp XNK hàng hóa đó sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. * Dựa trên phương pháp tính thuế thì thuế XNK có thể chia làm 03 loại: - Thuế XNK theo tỷ lệ %: số tiền thuế XNK được xác định căn cứ vào trị giá tính thuế và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) của mặt hàng tại thời điểm tính thuế, số tiền thuế XNK theo tỷ lệ % sẽ thay đổi theo giá trị của hàng hoá thực tế XNK.
Đây là phương pháp phổ biến nhất, được tính trên hầu hết các loại hàng hóa XNK. - Thuế XNK tuyệt đối: số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối đối với hàng hóa XNK được xác định căn cứ vào lượng hàng hóa thực tế XNK và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế. - Thuế XNK hỗn hợp là trường hợp áp dụng kết hợp đồng thời cả hai loại thuế XNK tuyệt đối và thuế XNK theo tỷ lệ % đối với cùng một chủng loại hàng hoá. Ngoài ra còn có 2 loại khác nhưng không phổ biến như: - Thuế XNK theo lượng thay thế là trường hợp một mặt hàng được quy định đồng thời theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối, nhưng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế nào cao hơn.
- Thuế XNK biến thiên thường được ấn định ở một mức, nhằm triệt tiêu ưu thế về giá cả của nước XK đối với hàng hóa sản xuất trong nước, thường áp dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp trong nội bộ Liên minh Châu Âu (EU). [11] * Căn cứ vào phạm vi tác dụng của thuế XNK có thể chia thành 02 loại: - Thuế XNK tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia, quy định tùy ý theo mục tiêu của quốc gia mà không phụ thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương nào đã ký kết. - Thuế XNK theo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết trong các Hiệp định song phương, đa phương đã ký kết. Các hình thức thu thuế xuất nhập khẩu Ở nước ta, việc thu thuế XNK do cơ quan Hải quan quản lý và được chia làm 2 hình thức thu thuế XNK: - Thu trực tiếp: đối với các trường hợp hoạt động XNK của cư dân biên giới, vùng sâu vùng, xa nơi, hải đảo, nơi không có Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng phối hợp thu.
- Thu gián tiếp: thu thuế XNK thông quan bên thứ ba (Ngân hàng phối hợp thu, Kho bạc Nhà nước). Các ngân hàng phối hợp thu nhận lệnh thanh toán từ người nộp thuế và chuyển tiền thuế vào tài khoản thu NSNN của cơ quan Hải quan mở tại ngân hàng có ký kết qui chế phối hợp thu, sau đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước theo các quy định phối hợp thu của BTC. Thu, nộp thuế XNK là một khâu của quy trình thông quan hàng hóa XNK nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ việc tổ chức thu, nộp thuế XNK đúng thời hạn, đủ số tiền, quản lý chặt chẽ các đối tượng nộp thuế để đảm bảo đôn đốc, thu nộp thuế; hạn chế, tránh tình trạng nợ đọng, gian lận thuế trong hoạt động kinh doanh XNK; phát hiện các trường hợp vi phạm. từ đó áp dụng các biện pháp xử lý triệt để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế XNK của cơ quan hải quan.
Thất thu thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm về thất thu thuế xuất nhập khẩu Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khoá nào; nó phản ánh hai mặt của một vấn đề, đó là lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người nộp thuế.