CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. Khái quát về thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1. Định nghĩa thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà tổ chức cả nhân có nghĩa vụ phải nộp vào NSNN khi có đủ những điều kiện nhất định. Căn cứ vào cách phân loại, có thể kể tên rất nhiều loại thuế trong hệ thống thuế của một quốc gia như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập DN,… Một trong số đó không thể không nhắc đến là thuế XK, NK, đây là loại thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn lực tài chính công cho đất nước.
Với từng giác độ và những cách thức tiếp cận khác nhau, chúng ta sẽ có nhiều khái niệm khác nhau về thuế XK, NK. Theo từ điển Luật học: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một l ại thuế gián thu đánh và các l ại hàng hóa , N qua cửa khẩu biên giới” [35, tr. Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu mp rt duty là kh ản thuế mà Ch nh phủ đánh và sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu ch Ch nh phủ và bả vệ các ngành sản xuất tr ng nước kh i sự cạnh tranh của nước ng ài” [34].
Thuế XK, NK được đề cập đến ở trong nghiên cứu là cách gọi giản đơn để chỉ hai loại thuế: thuế XK và thuế NK – thu vào hành vi XK, NK hàng hoá được phép XK, NK qua biên giới quốc gia. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu rằng: Thuế XK, NK là loại thuế độc lập trong hệ thống pháp luật thuế, thu vào hành vi XK, NK các loại hàng hoá được phép XK, NK qua biên giới quốc gia. Đặc điểm của thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thứ nhất, đối tượng chịu thuế , N là hàng h á được phép , N qua biên giới quốc gia. Khái niệm “hàng hoá” là đối tượng chịu thuế XK, NK bao gồm 8 các tư liệu sản xuất và tiêu dùng do con người sản xuất ra và được phép lưu thông trên thị trường bằng cách chuyển vào hoặc chuyển ra khỏi biên giới của một nước.
Tuy vậy, hầu như các nước đều không quy định các loại hàng hoá vô hình như phần mềm, dịch vụ dù được XK, NK là đối tượng chịu thuế XK, NK [22, tr. Hàng hoá là đối tượng chịu thuế XK, NK phải có một hành vi thực tế làm dịch chuyển hàng hoá đó qua biên giới thông qua mua bán, trao đổi, tặng cho,…. Biên giới quốc gia theo pháp luật thuế XK, NK là biên giới kinh tế, tức là bất cứ ở đâu khi có sự phân định giữa nền kinh tế nội địa với nền kinh tế nước ngoài, gồm: biên giới hành chính và những địa điểm khác như cửa khẩu bưu điện, cửa khẩu khu phi thuế quan. Hành vi XK, NK hàng hoá qua biên giới phải là hành vi trực tiếp tác động làm hàng hoá đó dịch chuyển qua biên giới quốc gia.
Hành vi đó do đối tượng nộp thuế trực tiếp tác động và có nghĩa vụ nộp thuế hoặc uỷ quyền cho chủ thể khác có nghĩa vụ nộp thay. Như vậy, chỉ có những hàng hoá được vận chuyển một cách hợp pháp qua biên giới mới là đối tượng chịu thuế XK, NK. Thứ hai, khi căn cứ và mục đ ch điều tiết của Nhà Nước, thuế , N ch nh là l ại thuế gián thu, nghĩa là người có nghĩa vụ nộp thuế không phải là người gánh chịu thuế. Việc có loại thuế này giúp cho Nhà Nước dễ dàng quản lý; thu được khoản thuế rất lâu và phức tạp; đồng thời giảm được chi phí hành thu khi mà số lượng người cung cấp hàng hoá, dịch vụ ít hơn, số lượng người tiêu dùng lại nhiều hơn.
Do đó, Nhà Nước để người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người thực hiện hoạt động XK, NK) nộp thuế. Thứ ba, thuế K, N gắn liền với h ạt động ng ại thương và dễ bị chi phối bởi các yếu tố quốc tế. Để kiểm soát tốt hoạt động ngoại thương, Nhà nước không thể bỏ qua công cụ hữu hiệu là thuế XK, NK thông qua thủ tục khai báo, thanh kiểm tra và xác định căn cứ tính thuế. Chính sách ngoại thương luôn được Nhà nước thay đổi trong từng giai đoạn, thời kì cho phù hợp.
Bởi vậy mà khi có sự biến động của kinh tế thế giới, việc tham gia và kí kết các hiệp định thương mại, hay chính sách quốc gia có biến chuyển,… đều sẽ ảnh hưởng ít nhiều tới thuế XK, NK. Điển hình trong xu thế tự do hoá thương mại, việc có được một chính sách thuế XK, NK hợp lý, vận dụng linh hoạt những thay đổi bất ngờ từ nền kinh tế thế giới nhưng vẫn 9 đảm bảo các cam kết, thoả thuận quốc tế của mỗi quốc gia là điều cần thiết và quan trọng. Vai trò của thuế xuất khẩu, nhập khẩu Lịch sử đã chứng minh rằng, dù xuất hiện muộn hơn một số loại thuế khác nhưng thuế XK, NK đã khẳng định được vai trò rất giá trị và to lớn đối với hoạt động kinh doanh của các công ty, DN nói riêng và đối với nền kinh tế mỗi quốc gia nói chung. Vai trò đặc biệt ấy được thể hiện qua một số mặt sau: Thứ nhất, một tr ng những đóng góp quan trọng ch nguồn thu của NSNN hàng năm đến từ thuế K, NK.
Tuỳ vào mỗi thời điểm thì sự đóng góp của thuế XK, NK vào NSNN cho từng nước là khác nhau. Đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thuế XK, NK luôn là một phần quan trọng và không thể thiếu trong NSNN. Bằng chứng là tỷ trọng của thuế XK, NK ở Việt Nam là khá cao trong cơ cấu các sắc thuế đóng góp vào NSNN qua mỗi năm. Do đó, thuế XK, NK rất được coi trọng và xem là một nguồn lực không thể bỏ qua trong chính sách tài chính công của đất nước.1 Thứ hai, thuế K, NK giúp bả hộ và thúc đẩy ch việc sản xuất ở tr ng nước.
Đối với hàng hoá NK, do bị đánh thuế NK nên về lí thuyết, giá cả của loại hàng hoá này trên thị trường trong nước NK sẽ tăng lên, trong khi đó các hàng hoá được sản xuất trong nước không phải chịu thuế NK nên giá thành sản phẩm có xu hướng rẻ hơn và có sức cạnh tranh lớn hơn đối với các hàng ngoại nhập [22, tr. Điều này đã giúp cho các DN trong nước có được môi trường kinh doanh tốt hơn, từ đó từng bước hoàn thiện mình để tăng sức cạnh tranh khi ra thương trường quốc tế. Dù rất tích cực hội nhập với kinh tế thế giới, cũng như thực hiện mục tiêu tự do hoá trong lĩnh vực thương mại nhưng việc bảo hộ nền sản xuất là việc không thể thiếu với Việt Nam. Tuy vậy, vấn đề này sẽ chỉ diễn ra ở một vài lĩnh vực trọng điểm và có thời hạn tối thiểu.
Bảo hộ chính là cơ hội rất tuyệt vời, đặc biệt giúp các DN vừa và nhỏ ở Việt Nam sẽ tích luỹ thêm được những bài học giá trị, học hỏi những tiến bộ khoa học – kỹ thuật của nước bạn, để hoạt động sản xuất phát triển hơn nữa và đủ sức đương đầu với thị trường mở hiện nay. 1 Xem thêm phụ lục số 01 10 Thứ ba, thuế K, NK giúp điều tiết h ạt động K, NK. Việc tiến hành XK, NK hàng hoá giữa các nước là điều hiển nhiên với thời buổi hội nhập như bây giờ. Các mặt hàng XK, NK phát triển ngày một đa dạng trên rất nhiều các nhóm ngành khác nhau như: hàng công nghiệp (nhẹ, nặng), hàng nông – lâm – thủy sản, hàng tư liệu sản xuất hay hàng tiêu dùng,….
Tuy nhiên, trong số đó lại có các mặt hàng không phù hợp với định hướng XK, NK của từng nước. Bởi thế mà việc dùng thuế quan để đánh thuế nhiều hay ít cho từng loại mặt hàng chính là thể hiện mong muốn trong chính sách XK, NK của mỗi nước. Thứ tư, thuế K, N là công cụ xây dựng ch nh sách đối ng ại bền vững và tiến bộ trên cơ sở đảm bả chủ quyền quốc gia. Rõ ràng với thời kỳ hội nhập kinh tế, việc tham gia, ký kết các hiệp định, đặc biệt liên quan tới thuế quan là hết sức phổ biến.
Vì thế mà việc sử dụng thuế suất cho những mặt hàng theo tỷ lệ phần trăm gồm 3 loại là: thông thường, ưu đãi, đặc biệt; hoặc là dùng mức thuế tuyệt đối với mặt hàng không dùng được theo tỷ lệ để có sự phân định rành mạnh cho từng mặt hàng và các nước khác một cách chi tiết. Hay như trong quy định của Luật thuế XK, NK 2016 hiện hành, Việt Nam đã ban hành thêm 3 loại thuế: “thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ đối với hàng h á , NK” để bổ sung cho thuế XK, NK trước những hành vi cạnh tranh không công bằng. Nhờ có những chính sách về thuế XK, NK hợp lý và tiến bộ, thị trường buôn bán của Việt Nam ngày càng mở rộng theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá. Ngoài thị trường truyền thống, Việt Nam đã có mối liên hệ mật thiết với các thị trường trọng điểm như châu Á – Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mĩ, cũng như có các bạn hàng lớn nhất về XK (Hoa Kỳ, Nhật Bản), NK (Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore) (Tổng hợp từ Niên giám thống kê XK, NK).
Tóm lại, không thể phủ nhận rằng, công dụng của thuế XK, NK trong việc đẩy mạnh hoạt động XK, NK đã giúp cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại thương, đồng thời thu hút nguồn vốn đầu tư dồi dào từ nước ngoài, để từ đó nâng cao hơn nữa thương hiệu, vị thế cho đất nước. Có thể thấy, thuế XK, NK có vai trò hết sức quan trọng, chính từ lý do đó, hoạt động chống thất thu thuế XK, NK là vô cùng cần thiết và có nhiều ý nghĩa thiết thực. Thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu và ý nghĩa của việc chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thất thu thuế thực tế là vấn đề thường trực, luôn tồn tại ở bất kì hệ thống thuế của mỗi nước, nó phản ánh mâu thuẫn về lợi ích giữa hai nhóm: Nhà nước và người nộp thuế.