chương 1, tác giả đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ Ở LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 2, một số nội dung chính được trình bày bao gồm: Một số khái niệm và các lý thuyết liên quan đến tuân thủ thuế, mô hình nghiên cứu.1 Nghĩa vụ thuế theo uật Quản lý thuế, Luật thuế XN Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 thì nghĩa vụ của người nộp thuế bao gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sô thuế. Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.
Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp Dịch vụtheo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng Thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”.
Một quan điểm khác về nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được trình bày trong OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ: Quản lý và cải thiện tuân thủ thuế, như sau: “Nghĩa vụ cụ thể của đối tượng nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà đối tượng nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào là: đăng ký thuế; nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ hồ sơ sổ sách); nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn.” Theo định nghĩa của OECD và Luật Quản lý thuế Việt Nam thì nghĩa vụ thuế đều liên quan đến các nội dung: đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai (báo cáo) thông tin và nộp thuế.2 Quan niệm về tuân thủ thuế Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam: Tuân thủ là giữ và làm đúng theo những điều đã quy định. Do đó, có thể khái quát tuân thủ thuế của người nộp thuế là việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các 6 hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của người nộp thuế. Khi tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được nâng cao, rõ ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu lực, đạt được các mục tiêu mong muốn. Tuân thủ thuế là một vấn đề luôn được các cơ quan quản lý quan tâm, không dễ dàng để thuyết phục người nộp thuế tuân thủ các yêu cầu về thuế, bởi “luật thuế không phải lúc nào cũng rõ ràng” (James và Alley 2004: 29).
Ý nghĩa chính xác của việc tuân thủ thuế được định nghĩa theo các cách khác nhau. Theo quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ, và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Vì vậy, cách tiếp cận tuân thủ thuế theo luật thuế chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến việc tăng cường tuân thủ thuế. Một trong những mục tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và tránh thuế.
Theo quan điểm hiện đại như Simon James và Clinton Alley (2010) thì cho rằng cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng được sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác.3 hái niệm về tuân thủ thuế Tuân thủ thuế là một khái niệm rộng, có thể xem xét ở nhiều lĩnh vực như tài chính công, kinh tế học, pháp lý và tâm lý học. Một số tài liệu của các tác giả như Allingham và Sandmo (1972), Spicer và Lundstedt (1976) mô tả và giải thích theo quan điểm tài chính công. Tuân thủ thuế là kết quả của mối tương quan giữa các biến bao gồm nhận thức về vốn, hiệu quả và phạm vi ảnh hưởng. Các hình thức của việc cưỡng chế về thuế như hình phạt và xác suất phát hiện cũng liên quan đến việc tuân thủ thuế trong khi các yếu tố khác về hành vi thị trường lao động, tiền lương của một cá nhân và khung thuế cũng góp phần vào việc tuân thủ thuế.
Theo góc độ kinh tế học về tuân thủ thuế, tác giả Joseph E. Stiglitz (1995) đã nêu rõ để thu được thuế, Chính phủ Hoa kỳ kết hợp sự tuân thủ tự nguyện cộng với sự đe dọa về hình phạt. Tác giả Song và Yarbrough (1978) nhìn nhận theo góc độ pháp lý và tâm lý học về tuân thủ thuế cho rằng do khía cạnh hoạt động đáng chú ý của hệ thống thuế Hoa Kỳ là người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế và tự nguyện nên tuân thủ thuế được định nghĩa là khả năng của người nộp thuế và sự sẵn lòng tuân thủ luật thuế được xác định bởi vấn đề đạo đức, môi trường pháp lý, và các yếu tố tình huống khác tại từng thời gian và địa điểm cụ thể. Theo nhóm tác giả Andreoni, Erard và Feinstein (1998) đã định nghĩa tuân thủ thuế là sự sẳn sàng tuân theo quy định pháp luật về thuế của người nộp thuế để đạt được trạng thái cân bằng kinh tế của một quốc gia.
7 Quan điểm rộng hơn về tuân thủ thuế đòi hỏi một mức độ trung thực, kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này, kịp thời, chính xác, và hồ sơ đầy đủ để hoàn thành các tờ khai thuế và các tài liệu liên quan đến thuế (Singh và Bhupalan, 2001). Một định nghĩa khác của Singh (2003) việc tuân thủ thuế là hành vi của người nộp tờ khai thuế, kê khai tất cả các thu nhập chịu thuế chính xác, và thanh toán tất cả các loại thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không cần phải chờ đợi theo dõi hành động từ cơ quan có thẩm quyền. Tuân thủ thuế là một khái niệm bao quát và được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng có thể hiểu tuân thủ thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng các quy định của pháp luật.4 hái niệm không tuân thủ thuế Ngược lại với việc tuân thủ thuế là hành vi không tuân thủ được định nghĩa là việc không sẵn lòng của đối tượng nộp thuế để nộp một số tiền như đã quy định, đó là do sự phức tạp trong các thủ tục pháp lý hoặc công tác quản lý (Jackson và Milliron, 1986: Kesselman, 1994; Kasipillai và Jabbar, 2003). Theo Kasipillai và Jabbar (2003) không tuân thủ thuế là việc không sẵn sàng tuân thủ theo luật thuế hoặc khai báo không chính xác thu nhập, thực hiện kê khai sai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế hoặc không thanh toán nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã quy định.
Còn theo tác giả Kirchler (2007) không tuân thủ cũng được coi là sự thất bại của người nộp thuế để báo cáo thu nhập thực tế, yêu cầu bồi thường các khoản khấu trừ và giảm giá và nộp số thuế thực tế cho cơ quan thuế về thời gian. Một nghiên cứu cũng phân đoạn thuế thu nhập không tuân thủ vào hành vi không chủ ý và có chủ ý là quan điểm của Loo (2006); Mohani (2001). Các hành vi không tuân thủ thuế như: hành vi tránh thuế, dùng luật để hạn chế việc nộp thuế đến mức tối thiểu của DN hay hành vi trốn thuế đều gây ra một ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý thuế của cơ quan chức năng. DN không nghiêm túc tuân thủ theo các quy định sẽ làm thất thoát nguồn thu cho Nhà nước.
Ngoài ra, sự thay đổi liên tục của các sắc thuế sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho hệ thống thuế mất đi tính bình đẳng và ổn định. Vì vậy, nâng cao mức độ tự nguyện tuân thủ đã trở thành mục tiêu thể chế và vận hành của cuộc cải cách thuế trên toàn thế giới. Đây là một khái niệm rộng, James và Alley (2004) đề xuất hai phương pháp tiếp cận tương phản liên quan đến thuế tuân thủ trong bảng tóm tắt sau: 8 Bảng 2.1: Hai phương pháp tiếp cận tuân thủ thuế Tuân thủ thuế Cách tiếp cận thứ 1 Cách tiếp cận thứ 2 - Tự nguyện - Khoản cách về thuế (tax gap) Quan điểm - Sẵn sàng thực hiện theo đúng quy định - Tuân thủ 100% quy định về thuế so với thực tế của pháp luật Khái niệm Nghĩa hẹp Nghĩa rộng Hành vi hợp tác giữa cơ quan thuế và người Tuân thủ thuế Sự hợp lý về lợi ích kinh tế nộp thuế Quyết định lựa chọn: - Mỗi cá nhân không chỉ đơn giản là một 1. Lợi ích mong đợi từ việc trốn thuế.
cá thể chỉ biết tối đa hóa lợi ích. Các cá thể Minh họa cụ thể tương tác với nhau dựa vào thái độ, niềm 2. Rủi ro bị phát hiện và khung hình phạt. tin, tiêu chuẩn và vai trò của từng người.
Tối đa hóa thu nhập và tài sản cá nhân. - Thành công phụ thuộc vào sự hợp tác. Hợp lý, công bằng và phạm vi tác động tích Các vấn đề Hiệu quả từ việc phân phối nguồn nhân lực.