Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong việc tạo việc làm cho 5,7 triệu lao động và đóng góp 234,4 nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước năm 2015. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm sự phát triển của khu vực này là rào cản tiếp cận nguồn lực tài chính. Dù tổng dư nợ tín dụng đối với DNNVV đạt gần 1,3 triệu tỷ đồng (chiếm 22% tổng dư nợ nền kinh tế), vẫn có tới 70% doanh nghiệp (tương đương khoảng 400.000 đơn vị) hoàn toàn chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức từ hệ thống ngân hàng thương mại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích những bất cập trong việc thực thi các chính sách tài chính công, bao gồm bảo lãnh tín dụng, vay vốn ưu đãi, quỹ phát triển chuyên ngành và cơ chế ưu đãi thuế. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện kết quả thực thi các chính sách tài chính giai đoạn 2011-2016, nhận diện nguyên nhân cốt lõi khiến dòng vốn chưa đến được khu vực tư nhân, và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam với trọng tâm dữ liệu từ năm 2011 đến năm 2017. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua mục tiêu giải phóng nguồn nội lực ước tính khoảng 3.075 nghìn tỷ đồng (tương đương 136,7 tỷ USD) vốn đăng ký chưa được đưa vào sản xuất kinh doanh, trực tiếp hỗ trợ hiện thực hóa mục tiêu đạt 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) của Joseph Stiglitz và Andrew Weiss (1981), giải thích hiện tượng phân bổ hạn ngạch tín dụng (credit rationing) khi các ngân hàng từ chối cho vay do thiếu thông tin minh bạch từ doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng Lý thuyết Khuyết tật thị trường (Market Failure Theory) của Arthur Pigou nhằm chứng minh sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ tài chính công để trợ cấp và bảo lãnh cho các chủ thể kinh tế yếu thế.

Mô hình nghiên cứu phân tích sự tác động tương hỗ giữa ba trụ cột: Thể chế chính sách của Nhà nước, Trung gian tài chính (Ngân hàng thương mại, Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ phát triển DNNVV) và Năng lực hấp thụ vốn của DNNVV. Nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm then chốt theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, phân loại doanh nghiệp theo 3 cấp độ (siêu nhỏ, nhỏ, vừa) dựa trên hai tiêu chí định lượng: tổng nguồn vốn (dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng) và số lao động bình quân năm (dưới 10 người đến 300 người). Các khái niệm cốt lõi bao gồm: chính sách hỗ trợ tài chính, bảo lãnh tín dụng ngoại bảng, bù lãi suất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các báo cáo tài chính ngành trong giai đoạn 2011-2016. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu tổng hợp của 612.000 doanh nghiệp đang hoạt động tính đến tháng 4/2017. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng khi khảo sát sâu thực trạng tiếp cận vốn tại 3 khu vực kinh tế: nông - lâm - thủy sản (chiếm 1,75% lao động), công nghiệp - xây dựng (chiếm 95,46% lao động) và dịch vụ (chiếm 2,79% lao động).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh chuỗi thời gian và phân tích tổng hợp hệ thống là nhằm bóc tách chính xác các mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi chính sách tài khóa - tiền tệ với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của khu vực tư nhân. Timeline nghiên cứu bao phủ giai đoạn biến động kinh tế vĩ mô sâu sắc từ năm 2011 đến năm 2017, đảm bảo tính cập nhật và giá trị thực tiễn cao cho các luận điểm khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và chất lượng đăng ký kinh doanh của DNNVV có sự phục hồi mạnh mẽ nhưng thiếu tính bền vững. Năm 2016 ghi nhận kỷ lục 110,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 16,2% so với năm 2015, với tổng vốn đăng ký đạt 891,1 nghìn tỷ đồng (tăng 48,1%). Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 8,1 tỷ đồng (tăng 27,5% so với năm 2015). Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động trong giai đoạn 2005-2013 chỉ đạt trung bình 45%, cá biệt năm 2012 chỉ đạt mức thấp kỷ lục là 32,7%.

Thứ hai, khu vực DNNVV gánh vác vai trò an sinh xã hội vượt trội nhưng đóng góp ngân sách còn khiêm tốn. Đến cuối năm 2015, DNNVV giải quyết việc làm cho 5,7 triệu người (chiếm 44% lao động doanh nghiệp cả nước), tăng lên ước tính 6,1 triệu người vào năm 2016 (tăng 7%). Thu nhập bình quân của người lao động đạt gần 6,2 triệu đồng/tháng. Về ngân sách, năm 2015 khu vực này đóng góp 234,4 nghìn tỷ đồng (tăng 14,3% so với năm 2014), nhưng chỉ chiếm 31% tổng thu ngân sách từ khối doanh nghiệp, trong khi các doanh nghiệp lớn đóng góp tới 531,2 nghìn tỷ đồng (gấp 2,3 lần DNNVV).

Thứ ba, sự tắc nghẽn nghiêm trọng trong hệ thống bảo lãnh và tín dụng ưu đãi. Mặc dù cả nước đã thành lập 10 Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương, hiệu quả vận hành vẫn rất thấp. Khoảng 70% doanh nghiệp tư nhân không thể tiếp cận vốn vay ngân hàng do không có tài sản thế chấp đủ giá trị gấp 1,5 đến 2 lần khoản vay. Quỹ Phát triển DNNVV dù được quy định từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP sau nhiều năm vẫn chưa thực sự khơi thông dòng vốn trực tiếp tới doanh nghiệp.

Thứ tư, vai trò dẫn dắt nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Giai đoạn 2011-2015, tỷ trọng vốn đầu tư của DNNVV có xu hướng vượt trội so với doanh nghiệp lớn. Năm 2013, vốn đầu tư của DNNVV chiếm tới 86,2% tổng vốn doanh nghiệp (đạt 715 nghìn tỷ đồng so với 237 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp lớn). Đến năm 2015, DNNVV đóng góp 1.322 nghìn tỷ đồng, chiếm 65% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến các chính sách tài chính chưa phát huy tối đa hiệu quả bắt nguồn từ sự bất cập ở cả hai phía: tổ chức cung cấp tài chính và bản thân doanh nghiệp. Về phía ngân hàng và các quỹ, quy trình thẩm định tín dụng vẫn phụ thuộc nặng nề vào tài sản bảo đảm truyền thống thay vì đánh giá dòng tiền và tính khả thi của phương án kinh doanh. Các Quỹ Bảo lãnh địa phương bị ràng buộc bởi quy định vốn ngân sách địa phương phải góp tối thiểu 30%, gây bế tắc cho các tỉnh có ngân sách hạn hẹp. Về phía DNNVV, hệ thống sổ sách kế toán thiếu minh bạch, tỷ lệ chi phí phi chính thức cao và kỹ năng lập dự án kinh doanh còn yếu kém.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua hệ thống biểu đồ so sánh tăng trưởng: Biểu đồ đường thể hiện số lượng 110,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới năm 2016 so với mức 78 nghìn doanh nghiệp năm 2011; Biểu đồ cột chồng so sánh 234,4 nghìn tỷ đồng đóng góp ngân sách của DNNVV với 531,2 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp lớn; Bảng cơ cấu phân bổ vốn đầu tư cho thấy tỷ trọng vốn DNNVV tăng từ 40,5% giai đoạn 2005-2009 lên 51% giai đoạn 2010-2013.

So sánh với bài học quốc tế, Trung Quốc đã thành lập Quỹ hỗ trợ trung ương 10,98 tỷ Nhân dân tệ và "Quỹ xanh" 10,6 tỷ Nhân dân tệ dành riêng cho đổi mới công nghệ, kết hợp phát hành trái phiếu liên kết. Nhật Bản xây dựng đạo luật DNNVV cơ bản và vận hành Liên đoàn doanh nghiệp nhỏ để liên kết doanh nghiệp vệ tinh theo mô hình công ty mẹ - con, thu hút tới 80% lực lượng lao động. Thái Lan thành lập Văn phòng Xúc tiến DNNVV (SMEPO) và triển khai 7 chiến lược tập trung vào 10 ngành công nghiệp mũi nhọn. Những thực tiễn này chỉ ra rằng Việt Nam cần chuyển từ cơ chế hỗ trợ dàn trải sang can thiệp có trọng tâm và luật hóa các chính sách bảo lãnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng và đa dạng hóa công cụ tài chính. Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân các tỉnh cần tái cấu trúc 10 Quỹ Bảo lãnh tín dụng hiện hữu, giảm tỷ lệ bắt buộc vốn ngân sách địa phương từ 30% xuống 15%, đồng thời tháo bỏ điều kiện bắt buộc về tài sản thế chấp đối ứng khi doanh nghiệp đã có dự án khả thi. Cho phép các quỹ triển khai nghiệp vụ đầu tư mua cổ phần ưu đãi hoàn lại và hỗ trợ phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Mục tiêu nâng tỷ lệ dự án sản xuất khả thi được bảo lãnh tín dụng đạt 50% vào năm 2020.

Thứ hai, thiết kế các gói tín dụng đặc thù tại các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo hệ thống ngân hàng thương mại chuẩn hóa quy trình cấp tín dụng tín chấp dựa trên xếp hạng tín nhiệm nội bộ và dòng tiền luân chuyển qua tài khoản. Mở rộng gói hỗ trợ cấp bù lãi suất từ 2% đến 4%/năm cho các DNNVV tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ. Phấn đấu nâng tỷ lệ tiếp cận vốn tín dụng chính thức của DNNVV từ 30% lên 50% trong giai đoạn 2018-2022.

Thứ ba, tái khởi động và chuyên môn hóa Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần hoàn thiện khung pháp lý để Quỹ Phát triển DNNVV triển khai cơ chế ủy thác cho vay và cho vay trực tiếp với lãi suất ưu đãi cố định thấp hơn thị trường từ 20% đến 30%. Áp dụng cơ chế chia sẻ rủi ro, chuyển đổi nợ quá hạn thành cổ phần góp vốn đối với các dự án đổi mới công nghệ. Giải ngân 100% nguồn vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng được cấp từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2018-2019.

Thứ tư, cải cách đồng bộ chính sách thuế và thủ tục hành chính. Bộ Tài chính trình Quốc hội quy định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 15-17% cho doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ (thay cho mức phổ thông 20%). Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu thành lập đối với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh cá thể. Đơn giản hóa toàn diện chế độ kế toán và triển khai hóa đơn điện tử bắt buộc cho 100% doanh nghiệp nhằm minh bạch hóa dữ liệu tài chính trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sâu sắc để xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thiện khung pháp lý về bảo lãnh tín dụng và điều hành lãi suất ưu đãi.

Nhóm thứ hai là Ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính tín dụng. Tài liệu mang lại góc nhìn thực tế về nhu cầu vốn của 70% doanh nghiệp tư nhân đang bị bỏ ngỏ, hỗ trợ phát triển các sản phẩm cho vay tín chấp theo chuỗi giá trị và tối ưu hóa hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ.

Nhóm thứ ba là các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hiệp hội ngành nghề. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm bắt các quy định ưu đãi thuế, quy trình tiếp cận Quỹ Phát triển DNNVV, từ đó chuẩn hóa hệ thống quản trị nội bộ và lập dự án kinh doanh đáp ứng tiêu chuẩn thẩm định của ngân hàng.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế và Chính sách công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích chính sách tài chính vĩ mô và mô hình giải quyết hạn chế tín dụng khu vực tư nhân.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam gặp những rào cản tài chính lớn nhất nào khi tiếp cận vốn ngân hàng? Rào cản lớn nhất là yêu cầu khắt khe về tài sản bảo đảm với giá trị thế chấp thường gấp 1,5 đến 2 lần khoản vay, trong khi các ngân hàng định giá tài sản thấp. Ngoài ra, việc thiếu hệ thống sổ sách kế toán chuẩn mực và phương án kinh doanh chưa đủ thuyết phục khiến 70% doanh nghiệp tư nhân bị từ chối cấp tín dụng.

Tại sao các Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương hoạt động kém hiệu quả trong thời gian qua? Hầu hết các địa phương gặp khó khăn khi phải đóng góp tối thiểu 30% vốn điều lệ từ ngân sách tỉnh. Bên cạnh đó, quy trình của quỹ yêu cầu điều kiện bảo đảm nghiêm ngặt tương tự như ngân hàng thương mại, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa bên bảo lãnh và bên cấp tín dụng, khiến quỹ không thể san sẻ rủi ro thực tế cho doanh nghiệp.

Kinh nghiệm quốc tế nào về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ có thể áp dụng ngay tại Việt Nam? Việt Nam có thể học hỏi mô hình thành lập Quỹ hỗ trợ trung ương kết hợp Quỹ công nghệ xanh từ Trung Quốc với nguồn vốn ngân sách chuyên biệt, hoặc học tập Nhật Bản trong việc xây dựng mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ liên kết công ty mẹ - con để ngân hàng giải ngân theo hợp đồng chuỗi cung ứng.

Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đóng vai trò như thế nào trong việc tái phục hồi sản xuất? Các biện pháp như giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và gia hạn nộp thuế trong thời gian 9 tháng theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP đã tạo nguồn vốn lưu động tự có tức thì, giúp doanh nghiệp vượt qua các cú sốc suy thoái kinh tế vĩ mô và duy trì việc làm cho hàng triệu lao động.

Doanh nghiệp cần những điều kiện gì để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa? Doanh nghiệp phải chứng minh được dự án sản xuất kinh doanh có tính khả thi cao, thuộc các ngành nghề ưu tiên đổi mới công nghệ hoặc sản xuất xuất khẩu, có báo cáo tài chính minh bạch và cam kết áp dụng cơ chế giám sát dòng tiền hoặc tái cấu trúc vốn theo thỏa thuận với quỹ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của chính sách hỗ trợ tài chính và tác động lan tỏa của khu vực kinh tế tư nhân.
  • Đánh giá xác thực bức tranh thực trạng với 110,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới năm 2016, đóng góp 234,4 nghìn tỷ đồng ngân sách và tạo việc làm cho 5,7 triệu lao động.
  • Nhận diện trực diện điểm nghẽn tín dụng khi 70% doanh nghiệp chưa tiếp cận được vốn vay và 10 Quỹ Bảo lãnh tín dụng vận hành chưa hiệu quả.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế thực chứng từ Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan trong việc thiết kế định chế tài chính chuyên trách.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về bảo lãnh tín dụng, lãi suất ngân hàng, vốn mồi từ Quỹ Phát triển DNNVV và cải cách chính sách thuế.

Đóng góp khoa học chính của luận văn là đã kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết kinh tế học tài chính công với thực tiễn chuyển đổi thể chế tại Việt Nam, mang lại góc nhìn đa chiều từ cả phía cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp.

Lộ trình triển khai tiếp theo đòi hỏi sự vào cuộc khẩn trương của Chính phủ và các Bộ ngành trong việc ban hành đầy đủ các Nghị định hướng dẫn Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngay trong giai đoạn 2018-2020.

Các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nhân hãy cùng đồng hành, hiện thực hóa các giải pháp chính sách tài chính để tạo động lực bứt phá cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vươn tầm hội nhập quốc tế.