CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU VÀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI THUẾ NHẬP KHẨU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU 1.Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu a. Khái niệm thuế nhập khẩu Cùng với sự phát triển của loài người, thuế ra đời như một yếu tố tất yếu khách quan, gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Theo quan điểm chung nhất thì: “thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định” [16; tr. Trong hệ thống pháp luật thuế của mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thời kì, đối với từng quốc gia hoặc từng nhóm quốc gia cụ thể [16; tr.57] Ngày nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến tình trạng của thuế nhập khẩu theo xu hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia.
Song về cơ bản, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là công cụ quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế, nhất là đối với những quốc gia trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường như Việt Nam Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận. - Xét về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước. Với cách tiếp cận này, thuế nhập khẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước. Mặt khác, thuế nhập khẩu còn có thể được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu [16; tr.
Đinh Thị Hồng Nhung 4 Khóa luận tốt nghiệp - Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lí cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu [16; tr. Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lí là Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu do Quốc hội ban hành và các văn bản, thông tư hướng dẫn thi hành. Mỗi quốc gia độc lập, có chủ quyền đều sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới nước mình. Thuế này gọi chung là thuế quan (custom duty).
Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới với nước ngoài được điều tiết và kiểm soát bởi hai công cụ chủ yếu là “hàng rào thuế quan” và “hàng rào phi thuế quan”. Do quan niệm khác nhau giữa các nước về nội hàm của khái niệm “thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sự khác nhau. Tổ chức thương mại thế giới WTO định nghĩa thuế quan đồng nhất với thuế nhập khẩu: “Thuế hải quan đánh vào hàng hóa nhập khẩu gọi là thuế quan. Thuế quan tạo ra lợi thế về giá cả cho hàng hóa sản xuất trong nước so với hàng hóa tương tự được nhập khẩu và đem lại nguồn thu cho các chính phủ” b.
Vai trò của thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu là công cụ quan trọng và cần thiết trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam. Ở góc độ chung nhất có thể thấy vai trò của thuế nhập khẩu được biểu hiện ở những khía cạnh sau: - Thứ nhất, vai trò của thuế nhập khẩu là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế do nhà nước đặt ra thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản này không chỉ quy định nội dung thuế nhập khẩu mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của chủ thể, các biện pháp đảm bảo việc thực hiện, thu, nộp thuế.
Cụ thể, theo khoản 1 điều 30 Luật ngân sách nhà nước 2002 thì thuế nhập khẩu là khoản thu 100% ngân sách Trung ương. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang từng bước thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng thuế nhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. - Thứ hai, thuế nhập khẩu có vai trò điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng. Thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa nhập khẩu làm giá của hàng hóa nhập khẩu tăng lên.
Do đó, nó có tác dụng điều tiết hoạt động nhập khẩu. Bởi lẽ, lượng hàng nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ trong nước, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả hàng hóa. Giá cả hàng hóa cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hay tăng sức cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường. Như vậy, thông qua thuế Đinh Thị Hồng Nhung 5 Khóa luận tốt nghiệp nhập khẩu nhà nước điều tiết được hoạt động nhập khẩu, hơn thế nữa thuế nhập khẩu còn hạn chế tiêu dùng hàng hóa xa xỉ, hàng hóa đi ngược lại với truyền thống văn hóa dân tộc, các loại hàng hóa không được khuyến khích như thuốc lá, bia, rượu… - Thứ ba, thuế nhập khẩu có vai trò bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Hàng hóa nhập khẩu do phải gánh thêm thuế nhập khẩu sẽ có giá cao hơn những mặt hàng được sản xuất trong nước. Những mặt hàng được sản xuất trong nước không phải chịu thuế nhập khẩu hoặc chỉ chịu thuế nhập khẩu phần nguyên liệu, máy móc nhập khẩu vì vậy nên có giả rẻ hơn trên thị thường. Chính vì vậy mà tăng sức cạnh tranh lớn hơn hàng hóa ngoại nhập. Điều này cho thấy việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là một biện pháp để bảo hộ nền sản xuất trong nước, khi Chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía các hàng hóa được sản xuất trong nước [16; tr.
Nhà nước luôn khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để ngành sản xuất trong nước phát triển, đồng thời điều chỉnh chính sách thuế quan có tính bảo hộ hợp lý, phù hợp với những cam kết mà Việt Nam kí kết cũng như tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Thứ tư, thuế nhập khẩu là công cụ để Việt Nam đàm phán trong thương mại quốc tế. Cùng với tự do hóa thương mại đang là xu thế chung của thế giới, thuế nhập khẩu luôn là điều kiện quan trọng được đưa ra trong các buổi đàm phán thương mại quốc tế của Việt Nam và các quốc gia như thực hiện các ưu đãi thuế quan, từng bước xóa bỏ hàng rào thuế quan.Thậm chí, các quốc gia dùng nó như là một biện pháp tự vệ hay trả đũa thương mại nếu quốc gia khác có hành vi dựng hàng rào thuế quan đánh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của quốc gia mình nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong thương mại quốc tế. Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn là cơ sở để nhà nước kiểm soát được chất lượng cũng như số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; giúp nhà nước cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường; góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích xuất khẩu; góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động khi sản xuất ở trong nước… 1. Khái quát nội dung cơ bản về pháp luật thuế nhập khẩu tại Việt Nam Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng kí, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, Đinh Thị Hồng Nhung 6 Khóa luận tốt nghiệp miễn giảm thuế, và xử lí các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa Nhà nước với người nộp thuế [16; tr.
Trải qua quá trình cải cách sửa đổi, bổ sung, hệ thống pháp luật thuế nhập khẩu đã từng bước hoàn thiện phù hợp với điều kiện phát triển của kinh tế xã hội cũng như xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn các quy định về thuế nhập khẩu được thể hiện tập trung trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, một số quy định cụ thể về trình tự, thủ tục hành thu thuế nhập khẩu được quy định trong Luật hải quan năm 2014. Pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam bao gồm những nội dung cơ bản như sau: * Đối tượng chịu thuế Theo điều 2 luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và điều 1 nghị định 87 năm 2010 thì đối tượng chịu thuế nhập khẩu gồm: - Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam - Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.
- Hàng hoá mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa nhập khẩu * Đối tượng không chịu thuế “Hàng hoá trong các trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: 1. Hàng hoá vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật. Hàng hoá viện trợ nhân đạo, hàng hoá viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức giữa hai Bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.