CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm an sinh xã hội - Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em. Với quan niệm của ILO thì ASXH chỉ là các biện pháp công cộng nhằm giúp nhóm người “yếu thế“ trong xã hội đương đầu với những khó khăn trước mắt.
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB), ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập. - Còn Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) thì lại coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; CTXH. Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn.
Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt là từ những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. Mặc dù ASXH là một Luan van 7 lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này: - Quan niệm về ASXH, GS.TS Mai Ngọc Cường cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này. + Theo nghĩa rộng: “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội”[8,tr21]. + Theo nghĩa hẹp: “ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ”[8,tr22].TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về KT-XH làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXH, BHYT và CTXH"[17].
- Còn GS Hoàng Chí Bảo lại cho rằng: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách [4]. Theo hướng tiếp cận này, GS. Hoàng Chí Bảo đã cụ thể hoá hơn vấn đề ASXH trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
Luan van 8 - Trong "Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” - chiến lược đầu tiên về ASXH của Việt Nam ghi nhận: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”[15]. Từ những phân tích trên cho thấy, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về ASXH. Tuy nhiên, theo tác giả, quan điểm sau của TS. Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội hoàn thiện hơn cả.
"ASXH là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc gặp rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu. đồng thời, qua đó động viên, khuyến khích họ tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính mình”[18]. Và tác giả chọn khái niệm này làm định hướng chính cho nghiên cứu luận văn của mình về công tác ASXH. Ý nghĩa của an sinh xã hội ASXH không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có giá trị đáng kể về mặt xã hội, đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc.
ASXH có các ý nghĩa cụ thể sau: - ASXH đảm bảo cho các đối tượng “yếu thế” nói riêng và người lao động nói chung được chăm sóc, bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện cần thiết để khắc phục những rủi ro xã hội, có cơ hội để phát triển và hoà nhập vào cộng đồng. - ASXH là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nếu công tác ASXH được thực hiện tốt thì sẽ giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Luan van 9 - ASXH góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội.
Mục tiêu cơ bản của an sinh xã hội là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia. An sinh xã hội phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội. Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, an sinh xã hội còn phải đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. - ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái giữa những con người trong xã hội.
Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội đồng thời nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người giúp cho xã hội phát triển lành mạnh. - ASXH còn đóng vai trò tích cực đối với sự ổn định tình hình chính trị của đất nước. Điều này cũng dễ nhận ra bởi vì tình hình KT-XH của đất nước có ổn định, có vững mạnh thì tình hình chính trị mới ổn định và vững mạnh. Như vậy, bằng những biện pháp của mình, ASXH tạo ra “lưới chắn” an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng đồng khi bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau gọi là những “rủi ro xã hội”[30].
Cơ sở của công tác an sinh xã hội a. Công bằng xã hội Khái niệm công bằng xã hội (CBXH) mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tùy thuộc nhiều vào quan điểm của con người. Định nghĩa về công bằng xã hội vì thế mà chỉ mang tính tương đối. “Công bằng xã hội là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên xã hội có và được thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong dài hạn” [9, tr.
Luan van 10 Bên cạnh đó, hiện nay các nhà kinh tế thường sử dụng hai khái niệm khác về CBXH, đó là công bằng ngang và công bằng dọc. - Công bằng ngang: là sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu thức nào đó như thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc.) thì chính sách của Chính phủ không được phân biệt đối xử. - Công bằng dọc: là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có. Theo cách hiểu này, chính sách của Chính phủ được phép đối xử có phân biệt với những người có tình trạng kinh tế khác nhau, với điều kiện sau khi chịu tác động của Chính phủ thì những khác biệt đó phải được giảm bớt.
Nếu như công bằng ngang có thể được thực hiện bởi cơ chế thị trường, thì công bằng dọc cần có sự điều tiết của nhà nước. Chính phủ thực thi chính sách phân phối theo công bằng dọc nhằm giảm chênh lệch về phúc lợi giữa các cá nhân. Điều này được thể hiện rõ nhất trong chính sách thuế và trợ cấp, đặc biệt là thuế lũy tiến (hoặc trợ cấp lũy thoái), trong đó người có thu nhập càng cao thì thuế suất phải chịu càng cao (hoặc tương ứng là suất trợ cấp càng thấp, thậm chí âm) và ngược lại, người có thu nhập thấp sẽ không chịu thuế suất hoặc thuế suất phải chịu thấp [32]. Xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm đến công bằng xã hội.
Công bằng xã hội không chỉ giới hạn ở công bằng về kinh tế mà còn là công bằng trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế. Công bằng xã hội được thể hiện trên ba phương diện chủ yếu sau: công bằng về cơ hội phát triển (học tập, lao động, việc làm, tiếp cận các nguồn lực và điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh.), công bằng về phân phối sản phẩm xã hội, công bằng về quan hệ phát triển giữa các vùng miền, các nhóm, tầng lớp xã hội, thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng chính Luan van 11 sách và những đối tượng yếu thế.