Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TIẾP NHẬN HỒ SƠ VÀ TRẢ KẾT QUẢ TRONG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Khái quát về giải quyết thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân Quận 1. Khái niệm thủ tục hành chính và giải quyết thủ tục hành chính 1. K n ệm t ủ tục n c ín Thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi thực hiện một công việc nhất định” [35, tr.
Trong hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói riêng, để giải quyết được bất cứ công việc nào cũng đều cần có những thủ tục phù hợp. Nghiên cứu về vấn đề này, hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về thủ tục hành chính như sau: Theo Giáo trình thủ tục hành chính của học viện Hành chính quốc gia thì “t ủ tục l p ươn t ức c c t ức ả qu ết côn v ệc t eo m t trìn tự n ất địn m t t ể lệ t ốn n ất ồm m t loạt n ệm vụ l ên quan c ặt c ẽ vớ n au n ằm đạt được kết quả mon muốn”. Theo Điều 3, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2020 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, có giải thích: “T ủ tục n c ín l trìn tự c c t ức t ực ện ồ sơ v êu cầu đ ều k ện do cơ quan n nước n ườ có t ẩm qu ền qu địn để ả qu ết m t côn v ệc cụ t ể l ên quan đến c n ân tổ c ức”. Theo cuốn Thủ tục hành chính của Tác giả Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim Sơn thì thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, về khồng gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà 8 nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân.
Như vậy có thể thấy, thủ tục hành chính là một bộ phận vô cùng quan trọng của thể chế hành chính nhà nước với vai trò thiết lập trật tự trong quản lý hành chính nhà nước trên các mặt, thủ tục hành chính là công cụ đắc lực để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình. Thủ tục hành chính là”Trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức công dân”. Thủ tục hành chính được quy định để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước, bao gồm: trình tự thành lập các công sở; trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động cán bộ, công chức; trình tự lập quy, áp dụng quy phạm pháp luật để đảm bảo các quyền chủ thể, trình tự điều hành, tổ chức các tác nghiệp hành chính. Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân.
Thông qua thủ tục hành chính, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước. K n ệm ả qu ết t ủ tục n c ín Theo một nghĩa chung nhất, thuật ngữ giải quyết, trong đó có giải quyết TTHC được hiểu “là việc xem xét, làm rõ nội dung, bản chất của vấn đề, sự việc để đưa ra kết luận hoặc quyết định phù hợp”. Theo quan niệm ấy, để giải quyết các vấn đề, sự việc có chất lượng, hiệu quả thì cần thiết phải tuân theo các quy trình, cách thức, thao tác và kỹ năng cần thiết. Với nghĩa nêu trên của thuật ngữ giải quyết, liên hệ với khái niệm TTHC, có thể đưa ra khái niệm về giải quyết TTHC như sau: Giải quyết TTHC là việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xem xét, làm rõ bản chất, nội dung các vấn đề, vụ việc hành chính theo đúng trình tự, cách thức do pháp luật hành chính quy định 9 và đưa ra các kết luận hoặc quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề, vụ việc một cách đúng đắn, hợp pháp và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước, phục vụ xã hội và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Điều cần lưu ý là pháp luật hành chính trong định nghĩa trên là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định TTHC. Đối với việc giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì pháp luật hành chính ngoài các quy phạm quy định TTHC còn có các quy phạm tạo thành pháp luật về giải quyết TTHC. Đặc điểm của giải quyết thủ tục hành chính Từ quan niệm trên, giải quyết TTHC có những đặc điểm sau: M t l , giải quyết TTHC là việc tiến hành những hoạt động, những công việc nhất định do pháp luật hành chính quy định để làm rõ bản chất, nội dung của vấn đề, vụ việc, trên cơ sở đó cơ quan, người có thẩm quyền đưa ra quyết định giải quyết vấn đề, vụ việc một cách đúng đắn, hợp pháp, hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, số lượng các vấn đề, vụ việc cần phải xem xét giải quyết theo TTHC rất phong phú, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết TTHC phải tiến hành những hoạt động cần thiết như nghiên cứu đơn, thư, hồ sơ, tài liệu; tổ chức xác minh, phân tích, đánh giá các thông tin, chứng cứ; xác định chính xác các quy phạm pháp luật áp dụng; kết luận và ra quyết định giải quyết theo đúng quy trình luật định.
Với các hoạt động đó đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết TTHC phải có đủ các điều kiện về tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính và thể chế. Người có thẩm quyền giải quyết TTHC không những phải có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là sự hiểu biết pháp luật về TTHC và giải quyết TTHC mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về đạo đức, trách nhiệm công vụ, kinh nghiệm và kỹ năng giải quyết TTHC. 10 Hai là, chủ thể trong giải quyết TTHC là các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các CQHC có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được pháp luật quy định. Đây là một trong những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt chủ thể trong giải quyết TTHC công, mang tính quyền lực nhà nước với các chủ thể của các phương thức giải quyết các vấn đề, vụ việc theo trình tự, thủ tục tư pháp, trọng tài hoặc TTHC tư, mang tính xã hội, phi nhà nước.
Ví dụ, Tòa án nhân dân, thẩm phán có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong việc xét xử các vụ án theo trình tự tố tụng; các Trung tâm trọng tài và trọng tài viên có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền xem xét, giải quyết các tranh chấp theo thủ tục trọng tài; giám đốc, tổng giám đốc các công ty, tổng công ty có nhiệm vụ, quyền hạn xem xét và giải quyết các việc trong nội bộ công ty, tổng công ty theo TTHC tư và các quy định nội bộ…. Chủ thể trong giải quyết TTHC cũng là người đại diện cho cơ quan nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước, một loại quyền lực do nhân dân ủy quyền, để thực thi công vụ. Vì vậy, về nguyên lý, việc thực thi công vụ của các chủ thể nêu trên trong giải quyết TTHC cũng đồng thời là trách nhiệm công vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân và phải bảo đảm sự bình đẳng, công khai, minh bạch, dân chủ và thuận tiện trong giải quyết thủ tục, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng. Ba là, khách thể trong giải quyết TTHC là các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức có liên quan đến các vấn đề, vụ việc mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết theo TTHC.
Các quyền và lợi ích này rất phong phú, đa dạng, được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận trong Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và được cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành, như: Luật Báo chí, Luật Xuất bản; Luật Doanh nghiệp; Luật Phá sản; Luật Hôn nhân và gia đình… Trên cơ sở của pháp luật, các quan hệ pháp luật có thể được phát sinh, tồn tại hoặc chấm dứt xuất phát 11 từ những nhu cầu khách quan và mong muốn chủ quan của chủ thể. Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này không mặc nhiên phát sinh, tồn tại hoặc chấm dứt, mà trong hầu hết các trường hợp còn cần có sự giải quyết của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Ví dụ, để kết hôn và sống cuộc sống vợ chồng thì đôi nam nữ cần phải làm thủ tục đăng ký kết hôn, phải được UBND giải quyết theo thủ tục đăng ký kết hôn; để lập hội, thì những người có nguyện vọng lập hội phải thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật về hội và phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết (đối với hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) hoặc Bộ Nội vụ giải quyết (đối với hội có phạm vi hoạt động trong cả nước hoặc liên tỉnh) theo thủ tục được pháp luật quy định. Cũng như vậy, để thực hiện quyền tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức phải thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh, mã số thuế, thực hiện việc thông báo trên các báo Trung ương hoặc địa phương theo quy định mới có thể tiến hành kinh doanh hợp pháp.
Như vậy, để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong giải quyết TTHC không chỉ đòi hỏi các quy phạm quy định TTHC phải đáp ứng được các nguyên tắc quy định thủ tục, phù hợp với yêu cầu CCHC, mà còn đòi hỏi chất lượng các quy phạm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục, tức là chất lượng pháp luật về giải quyết TTHC. Bốn l , đối tượng giải quyết TTHC là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.