đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp Thực hiện nghiên cứu: Trương Tôn Toại 6 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Đề tài: Phân tích tác động đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh ở Bình Thuận nghiên cứu, ý nghĩa th ực tiễn của luận văn, những điểm khác biệt căn bản so với các nghiên cứu trước và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày tóm lược các khái niệm của đề tài về hộ kinh doanh, việc làm và giải quyết việc làm, cầu lao động. Cùng với đó sẽ giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết, trọng tâm là về các vấn đề việc làm, cung cầu lao động, tạo việc làm và giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp.
Ngoài ra, cũng gi ới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước về những nội dung có liên quan đến đề tài, nhất là các yếu tố tác động đến cầu lao động trên phạm vi xã hội, cũng như c ủa khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế phi chính thức, các loại hình doanh nghiệp và cơ sở SXKD. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trọng tâm của chương này là đề xuất phương pháp nghiên cứu; đồng thời dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, cũng như ý ki ến chuyên gia và thực tế tình hình về nguồn dữ liệu nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, cũng sẽ nêu rõ cách thức thu thập và phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích tạo việc làm và giải quyết việc làm vừa qua ở địa phương. Đặc biệt sẽ đi sâu mô tả cụ thể và phân tích làm rõ các kết quả từ các nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng; từ đó nêu bật ý nghĩa thực tiễn của các kết quả thu được. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
Tóm lược các kết quả thu được và đề xuất, khuyến nghị về cơ chế, chính sách trên cơ sở kết quả nghiên cứu. Đồng thời chỉ rõ một số điểm hạn chế của đề tài và đề xuất những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Thực hiện nghiên cứu: Trương Tôn Toại 7 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Đề tài: Phân tích tác động đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh ở Bình Thuận CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung giới thiệu các khái niệm, trình bày cơ sở lý thuyết và sơ lược về một số nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cụ thể như sau: 2. Các khái niệm của đề tài 2.
Hộ kinh doanh Về khái niệm, theo Ngô Huy Cương (2009): Trong Pháp luật Anh, thương nhân đơn lẻ (sole trader) là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động; có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh; vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn (Abdul Kadar và ctg, 1985). Còn pháp luật Hoa Kỳ cho rằng, doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) là một thương nhân (a business) được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó và doanh nghiệp (enterprise) này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân (individual owner) (Jame, 1991). Các quan điểm này hoàn toàn trùng hợp với quan niệm của các luật gia Việt Nam ở các chế độ cũ; xem thương nhân th ể nhân là cá nhân (có hình hài, cốt nhục) kinh doanh khác biệt hẳn với các thương nhân pháp nhân là các tổ chức hay đoàn thể được tạo lập bởi sự góp vốn của các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi quan niệm về thương nhân thể nhân (Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân, 1972) dựa vào Điều 1-Luật Thương mại Pháp 1807; theo đó, cá nhân trở thành thương nhân là một vấn đề thực tế được xác định bởi tòa án; nếu tên cá nhân xuất hiện trong sổ đăng ký thương mại tại tòa án thương mại thì người đó được xem là thương nhân, trừ khi có chứng cứ ngược lại (Philippe và ctg, 1993).
Trong pháp luật Việt Nam, tên gọi để chỉ hộ kinh doanh có nhiều thay đổi theo thời gian, như: “hộ cá thể”, “hộ tiểu thủ công nghiệp”, “hộ kinh doanh cá thể”. Còn hiện nay, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ xác định là “hộ kinh doanh”. Theo đó: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu riêng và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất Thực hiện nghiên cứu: Trương Tôn Toại 8 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Đề tài: Phân tích tác động đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh ở Bình Thuận nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ khi kinh doanh các ngành nghề có điều kiện.
Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Như vậy, có thể xem đây là khái niệm về hộ kinh doanh ở nước ta hiện nay. Về đặc điểm pháp lý: (1) Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân vì là thực thể không tách biệt với người thành lập và mọi tài sản của cá nhân tạo lập nó, nên hưởng toàn bộ lợi nhuận và gánh chịu mọi nghĩa vụ. (2) Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ, sử dụng dưới 10 lao động và chỉ có thể có một cửa hàng hoặc một cơ sở SXKD đặt tại một địa phương nhất định.
Việc thành lập, đăng ký và chấm dứt kinh doanh. (1) Việc thành lập hộ kinh doanh rất đơn giản. Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ, quy định: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quy định. (2) Thủ tục đăng ký kinh doanh như sau: Cá nhân ho ặc đại diện hộ gia đình gửi hồ sơ, thủ tục đến cơ quan chức năng và trong thời hạn năm ngày làm việc sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu hồ sơ hợp lệ); hộ kinh doanh hoạt động ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận và quá trình hoạt động, có thể thay đổi nội dung hoặc ngừng kinh doanh theo quy định của pháp luật.
(3) Hộ chấm dứt kinh doanh khi cá nhân thành lập chết hoặc theo ý muốn của họ hay bởi hiệu lực của pháp luật thông qua việc bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Việc làm và giải quyết việc làm Để hiểu rõ khái niệm việc làm phải liên hệ đến phạm trù lao động, vì chúng có Thực hiện nghiên cứu: Trương Tôn Toại 9 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Đề tài: Phân tích tác động đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh ở Bình Thuận mối quan hệ mật thiết với nhau. Kinh tế học chính trị Mác-Lê nin quan niệm: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người” và “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người” (Chu Thanh Hưởng trích dẫn, 2013). Còn theo Đồng Văn Tuấn (2011): “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người”.
Trong khi Nguyễn Thúy Hà (2013) cho rằng: Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Từ cơ sở trên để tìm hiểu sâu vấn đề việc làm. Cũng theo Nguyễn Thúy Hà (2013): Việc làm là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, nhưng ph ải được pháp luật thừa nhận. Còn theo Luật Việc làm 2013: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật nghiêm cấm” (Khoản 2, Điều 3); việc làm công là việc làm tạm thời có trả công được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn” (Khoản 5, Điều 3).
Có thể xem đây là khái niệm về việc làm ở nước ta hiện nay. Phân loại việc làm: Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc gồm: việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn công việc khác và việc làm phụ là công việc mà họ giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Ngoài ra, có thể chia thành: việc làm toàn thời gian chỉ một công việc làm 8 tiếng/ ngày và 5 ngày/ tuần; việc làm bán thời gian mô tả công việc làm không đủ thời gian hành chính như trên; việc làm thêm mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định.
Trong hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, ILO còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn và việc làm bền vững. Vai trò của việc làm, WB (2014) khẳng định: Việc làm có vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo, giúp các thành phố vận hành và giúp lớp trẻ tránh được Thực hiện nghiên cứu: Trương Tôn Toại 10 Hướng dẫn khoa học: PGS.