Chương 1: Tổng quan. Chương này nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung như lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày những khái niệm cơ sở lý thuyết về tiền lương, các phân loại tiền lương, lý thuyết về tiền lương, các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương, các nghiên cứu trước về tiền lương.Dựa vào các cơ sở lý luận đó, mô hình nghiên cứu của đề tài cũng được trình bày trong chương này.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này giới thiệu về sơ đồ quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và các kiểm định cần phải thực hiện. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 để tìm ra các yếu tố tác động đến tiền lương của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Thuận.
Đồng thời, tác giả tiến hành kiểm định độ phù hợp của mô hình, ý nghĩa thống kê của các yếu tố trong mô hình, diễn giải các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này tổng hợp lại kết quả nghiên 4 cứu của đề tài, qua đó đưa ra các khuyến nghị nhằm đảm bảo tiền lương cho người lao động và các chính sách tiền lương phù hợp theo đặc thù của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chính của chương 2 tập trung lược khảo các lý thuyết có liên quan đến tiền lương trong doanh nghiệp và các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Đây là căn cứ khoa học để lựa chọn mô hình nghiên cứu.1 Các khái niệm Thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới. Tiền lương có thể có nhiều tên gọi khác nhau như: thù lao lao động, thu nhập lao động. Công ước về bảo vệ tiền lương (ILO, 1949) cho rằng, ở Đài Loan tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm.Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO, 2006), ở Nhật bản, tiền lương bất luận được gọi khác nhau, là thù lao mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân. Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO, 2006), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Theo CIEM (2012) tiền lương khác thu nhập. Tiền lương là một phần của thu nhập hay nói cách khác tiền lương cộng các khoản thu khác ngoài lương là thu nhập. Tuy nhiên, ở Đài Loan, tiền lương là tất cả mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc bất kể là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc mọi danh nghĩa khác để trả cho người lao động theo thời gian nhất định hoặc theo sản phẩm họ làm ra. Quốc hội (2012) tại khoản 1 điều 3 của bộ luật Lao Động Việt Nam qui định, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
6 Theo công ước về bảo vệ tiền lương (ILO, 1949),tiền lương tối thiểu (mức lương tối thiểu): Cũng có những quan điểm khác nhau. Từ trước tới nay mức lương tối thiểu được xem là "cái ngưỡng cuối cùng", để từ đó xây dựng các mức lương khác tạo thành hệ thống tiền lương của một ngành nào đó, hoặc hệ thống tiền lương chung thống nhất của một nước, là căn cứ để xác định chính sách tiền lương. Với quan niệm như vậy, mức lương tối thiểu được coi là yếu tố rất quan trọng của một chính sách tiền lương nó liên hệ chặt chẽ với ba yếu tố là:Mức sống trung bình của dân cư một nước; chỉ số giá cả sinh hoạt; loại lao động và điều kiện lao động. Mức lương tối thiểu nhằm hạn chế sự giãn cách quá lớn giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa, là hình thức can thiệp của chính phủ vào chính sách tiền lương, trong điều kiện thị trường lao động luôn có số cung lớn hơn cầu.
Nhiều nhà hoạch định chính sách kinh tế xã hội và các nhà kinh tế ủng hộ biện pháp bảo hộ của chính phủ đối với mức lương tối thiểu và cơ chế trả lương ở các thành phần kinh tế. Đặc biệt, đối với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá lạm phát luôn thường trực, nguồn nhân lực tăng quá nhanh so với khả năng tạo việc làm của nần kinh tế, sự xâm nhập lớn của chủ nghĩa tư bản nước ngoài để tận dụng thị trường và nguồn nhân lực tại chỗ. thì việc chính phủ công bố các mức lương tối thiểu ở mỗi thời kỳ là một yêu cầu bắt buộc. Tuy vậy cũng có ý kiến cho rằng mức lương tối thiểu quy định quá "cứng và máy móc" sẽ làm mất đi sự linh hoạt trong cơ chế tự điều tiết của thị trường lao động, thậm chí có ảnh hưởng đến cả tính hấp dẫn trông thu hút đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế.
Bản chất và ý nghĩa của tiền lương Bản chất của tiền lương cũng thay đổi tuỳ theo các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người. Trước đây, tiền lương thường được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Giờ đây với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào doanh nghiệp, tiền lương không phải đơn thuần chỉ là sức lao động (ILO,1949). Như vậy, tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người 7 sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội.
Theo Dương Quỳnh Trang (2013), tài chính trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền thưởng,tiền hoa hồng.Tài chính gián tiếp bao gồm bảo hiểm, chế độ phúc lợi…Phần phi tài chính chứa đựng các lợi ích mang lại cho người lao động từ bản thân công việc và môi trường làm việc như sức hấp dẫn của công việc, sự vui vẻ, mức độ tích luỹ kiến thức, tự học hỏi, sự ghi nhận của xã hội.Chức năng của tiền lương Theo tổ chức lao động thế giới (ILO,1949), Trong bất cứ chế độ xã hội nào, tiền lương cũng thực hiện chức năng kinh tế cơ bản của nó là đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho xã hội.Tuy nhiên, mức độ tái sản xuất mở rộng cho người lao động và cách tính, cách trả tiền lương trong mỗi chế độ là khác nhau. Người lao động tái sản xuất sức lao động của mình thông qua các tư liệu sinh hoạt nhận được từ khoản tiền lương của họ. Để tái sản xuất sức lao động, tiền lương phải đảm bảo tiêu dùng cá nhân người lao động và gia đình họ. Để thực hiện chính sách này trong công tác tiền lương phải: (i) Nhà nước phải định mức lương tối thiểu: Mức lương tối thiểu phải đảm bảo nuôi sống gia đình và bản thân họ.
Mức lương tối thiểu là nền tảng cho chính sách tiền lương và việc trả lương cho các doanh nghiệp, bởi vậy nó phải được thể chế bằng pháp luật buộc mọi doanh nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện. Để xác định được mức lương tối thiểu đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ các yếu tố hợp thành tiền lương như nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, đi lại, ăn, mặc, ở,… Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá linh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, 2006). Vai trò của tiền lương Ai cũng thừa nhận rằng tiền lương là bộ phận cơ bản trong thu nhập của người 8 lạo động, quyết định mức sống vật chất của những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp. Vì vậy chỉ khi nào tiền lương phù hợp với sức lao động, tức là quyền lợi của ngời lao động được đảm bảo thì họ mới yên tâm làm việc và dồn hết tâm huyết của mình trong công việc (Đỗ Văn Tính, 2015).
Có thể nói rằng, sử dụng đúng đắn tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động, tạo ra động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. Do vậy, tiền lương các vai trò lớn sau: 2.Vai trò tái sản xuất sức lao động Nguyễn Trúc Vân và Thang Vĩnh Phú (2014) cho rằng, sức lao động là công năng về cơ bắp, bắp thịt và tinh thần của người lao động. Trong quá trình lao động, nó sẽ tiêu hao dần vào qui trình sản xuất. Tiền lương lúc này sẽ giữ vai trò khôi phục lại công năng đó, tái sản xuất sức lao động.
Nó là một yêu cầu tất yếu không phụ thuộc vào một điều kiện khách quan nào, là cơ sở tối thiểu để đảm bảo tác động trở lại phân phối tới sản xuất. Tiền lương phải đủ để nuôi sống người lao động và gia đình họ, đảm bảo những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của người lao động để từ đó có thể tái sản xuất sức lao động và lực lượng sản xuất. Xây dựng hệ thống thang bảng lương phải phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh. Đồng thời, lương phải phản ánh mức hao phí và tiêu hao lao động trên cơ sở đánh giá mức độ phức tạp lao động và phân biệt trong những điều kiện lao động khác nhau ghiữa các ngành nghề, công việc để từ đó có thể đảm bảo nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người lao động (Trần Thị Kim Dung, 2006).