Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ tính đến cuối năm 2009, trên phạm vi toàn quốc mới chỉ có 25 trong tổng số 55 Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt đề án chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP, đạt tỷ lệ 45,5%. Trong khi đó, có 15 đơn vị đang chờ phê duyệt chiếm 27,3%, 7 đơn vị đang trong giai đoạn xây dựng đề án chiếm 12,7% và còn tới 8 đơn vị chưa triển khai chiếm 14,5%. Thực trạng này phản ánh quá trình chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp khoa học công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đang gặp phải những rào cản nghiêm trọng về tổ chức, nguồn vốn và cơ chế vận hành.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là xác định nguyên nhân khiến các đơn vị khoa học địa phương lúng túng khi chuyển đổi phương thức hoạt động từ bao cấp sang tự chủ hoàn toàn hoặc chuyển sang mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng hoạt động và xác định các yếu tố cơ bản mang tính quyết định giúp các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh chuyển đổi thành công.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 5 tỉnh có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tương đồng thuộc khu vực Tây Nam Bộ gồm Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang và Vĩnh Long trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009. Về mặt ý nghĩa, công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn và khung tham chiếu khoa học giúp 55 trung tâm trên toàn quốc tái cấu trúc bộ máy, tăng tỷ lệ tự chủ tài chính lên trên 60% và nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu thêm ít nhất 30% trong giai đoạn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp hai nền tảng lý thuyết chính là lý thuyết hệ thống và lý thuyết tổ chức học. Theo lý thuyết hệ thống, mỗi trung tâm khoa học công nghệ cấp tỉnh được xem là một hệ thống mở, trong đó các phòng ban chuyên môn là phân hệ, các tổ công tác là mô đun và mỗi cán bộ viên chức là phần tử cấu thành. Khi môi trường vĩ mô thay đổi với sự xuất hiện của Nghị định 115/2005/NĐ-CP, hệ thống buộc phải tự điều chỉnh thông qua việc cân đối đầu vào về nhân lực, vật lực, tài lực và tái cấu trúc đầu ra nhằm thích ứng với quy luật thị trường. Lý thuyết tổ chức học bổ trợ qua các quy luật về sự tự điều chỉnh, tính đồng nhất và đặc thù, chỉ ra rằng tổ chức chỉ tồn tại và phát triển khi có mục tiêu rõ ràng và bộ máy lãnh đạo đủ năng lực đổi mới.

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm trọng tâm bao gồm: cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công lập, dịch vụ khoa học công nghệ và năng lực công nghệ. Năng lực công nghệ được xác định qua ba trụ cột thiết yếu gồm năng lực sản xuất, năng lực đầu tư và năng lực sáng tạo. Các công trình kinh tế học thế giới chứng minh năng lực công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ, 76% ở Pháp, 78% ở Tây Đức và 55% ở Nhật Bản trong nửa cuối thế kỷ 20, khẳng định vai trò sống còn của việc làm chủ công nghệ đối với các nước đang phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 5 Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tại các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang và Vĩnh Long. Việc lựa chọn 5 đơn vị này đảm bảo tính đại diện cao do tính chất giáp ranh địa lý, tương đồng về quy mô kinh tế nông nghiệp và cùng chịu sự điều chỉnh của hệ thống văn bản pháp quy từ năm 2005 đến năm 2009.

Nguồn dữ liệu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính, quyết định thành lập, số liệu nhiệm vụ nghiên cứu giai đoạn 2005-2009 của các Sở Khoa học và Công nghệ và dữ liệu sơ cấp thu thập qua hơn 100 phiếu điều tra xã hội học, phiếu xin ý kiến cán bộ viên chức kết hợp phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý đầu ngành. Phương pháp phân tích tài liệu, phân tích tổng hợp và so sánh định lượng được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác mối quan hệ giữa năng lực nội tại của trung tâm với mức độ thành công khi chuyển đổi mô hình quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại 5 trung tâm khu vực Tây Nam Bộ giai đoạn 2005-2009 chỉ ra bốn phát hiện cơ bản:

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức và chất lượng nguồn nhân lực có sự chênh lệch lớn nhưng nhìn chung tỷ lệ cán bộ trình độ cao còn thấp. Cụ thể, Trung tâm Bến Tre có 22 cán bộ với 50% trình độ đại học nhưng chỉ có 4,55% trên đại học (1 người), còn lại là trung cấp chiếm 22,73% và lao động phổ thông chiếm 18,18%. Về tính chất việc làm, đơn vị có 12 người trong biên chế và 10 lao động hợp đồng. Tại Trung tâm Đồng Tháp, tổng số nhân sự là 24 người nhưng có tới 21 người thuộc biên chế và chỉ 3 lao động hợp đồng, tỷ lệ cán bộ sau đại học cũng dưới mức 5%.

Thứ hai, nguồn lực tài chính phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp chưa ổn định. Trong giai đoạn 2005-2009, kinh phí hoạt động thường xuyên do nhà nước cấp vẫn chiếm tỷ trọng chi phối từ 60% đến 80% tổng ngân sách vận hành của các đơn vị. Các khoản thu từ dịch vụ chuyển giao công nghệ, tư vấn môi trường và kiểm định đo lường mới chỉ đóng góp khoảng 20% đến 35% doanh thu hàng năm.

Thứ ba, chức năng nhiệm vụ giữa các địa phương bị phân tán và thiếu đồng bộ. Điển hình như Trung tâm Tiền Giang được thành lập từ năm 1984 và tự trang trải kinh phí từ năm 1999 nhưng lại không được giao chức năng phân tích thử nghiệm đo lường, làm mất đi nguồn thu dịch vụ ổn định so với các trung tâm Đồng Tháp hay Long An.

Thứ tư, vai trò lãnh đạo và khả năng thương mại hóa sản phẩm là yếu tố then chốt. Hơn 75% ý kiến khảo sát đánh giá rằng năng lực, bản lĩnh của Giám đốc trung tâm và sự sẵn có của các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường (như nấm giống, công nghệ xử lý nước sinh hoạt, chế phẩm sinh học) quyết định trực tiếp tới khả năng tồn tại khi chuyển sang tự trang trải.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ trong chuyển đổi là tư duy bao cấp kéo dài, sự e ngại rủi ro của người đứng đầu và cơ chế giao vốn, giao tài sản chưa dứt điểm tại các địa phương. Nhiều cán bộ lo ngại mất quyền lợi biên chế khi chuyển sang hợp đồng lao động doanh nghiệp.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã trải qua 4 giai đoạn cải cách thể chế khoa học từ năm 1985 đến sau năm 2000 theo phương châm ổn định một đầu, mở rộng một đầu. Đến năm 2006, Trung Quốc đã chuyển đổi thành công 370 viện nghiên cứu quốc gia sang doanh nghiệp khoa học công nghệ, chỉ giữ lại khoảng 150 viện công lập hưởng ngân sách trực tiếp. Bài học này cho thấy Việt Nam cần phân loại triệt để các đơn vị làm dịch vụ triển khai để chuyển dứt điểm sang kinh doanh công nghệ.

Dữ liệu thực trạng của 5 trung tâm có thể được mô hình hóa hiệu quả qua biểu đồ so sánh cơ cấu nhân lực và bảng tổng hợp nguồn thu sự nghiệp theo từng lĩnh vực chuyên môn, giúp các nhà quản lý thấy rõ điểm nghẽn tài chính của từng đơn vị.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện thành công cơ chế tự chủ theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP, bốn giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ:

Một là, kiện toàn và chuẩn hóa năng lực đội ngũ lãnh đạo. Ban Giám đốc các trung tâm phải hội đủ ba yếu tố gồm học vấn chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh đổi mới. Cần tổ chức các khóa bồi dưỡng quản trị doanh nghiệp khoa học công nghệ cho 100% lãnh đạo trung tâm trước năm 2012, gắn trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng đơn vị với kết quả tự chủ tài chính.

Hai là, tái cơ cấu bộ máy và chuẩn hóa chất lượng nhân sự. Các trung tâm cần rà soát, tinh giản tối thiểu 20% lao động gián tiếp, chuyển mạnh sang cơ chế hợp đồng việc làm linh hoạt. Phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học lên trên 15% vào năm 2015, bố trí đúng người theo chuyên môn và sở trường công tác để giải phóng sức sáng tạo.

Ba là, chủ động xây dựng danh mục sản phẩm và dịch vụ công nghệ thương mại. Tập trung phát triển các thế mạnh địa phương như nhân giống nấm ăn, nấm dược liệu, chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp sạch và dịch vụ tư vấn môi trường, kiểm toán năng lượng. Mục tiêu đưa tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp chiếm trên 60% tổng chi thường xuyên của trung tâm trong vòng 3 năm sau khi phê duyệt đề án.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản lý. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh cần thống nhất hướng dẫn giao quyền sở hữu tài sản, trụ sở, đất đai và cấp vốn điều lệ ban đầu cho trung tâm khi chuyển thành doanh nghiệp. Áp dụng nhất quán chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu và miễn thuế đất phục vụ nghiên cứu thực nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là Ban Giám đốc và cán bộ chủ chốt của 55 Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ trên cả nước. Luận văn cung cấp phương pháp luận và các bước cụ thể để xây dựng đề án tự chủ, chuyển đổi mô hình hoạt động phù hợp với tiềm lực sẵn có.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tài liệu giúp các cơ quan quản lý hoạch định chính sách đầu tư trang thiết bị, phân bổ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo cơ chế đặt hàng và tháo gỡ vướng mắc về quản lý tài sản công.

Nhóm thứ ba là Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ cùng các đơn vị tham mưu thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Luận văn là cơ sở thực chứng giúp cơ quan trung ương ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn sát với đặc thù của từng vùng kinh tế xã hội.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về ứng dụng lý thuyết hệ thống và tổ chức học vào nghiên cứu chuyển đổi thể chế công lập tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định những mô hình chuyển đổi nào cho các tổ chức khoa học công lập?
Văn bản quy định hai hình thức chuyển đổi bắt buộc gồm: tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp khoa học công nghệ theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP.

Vì sao tiến độ chuyển đổi của các trung tâm cấp tỉnh giai đoạn 2005-2009 đạt tỷ lệ thấp?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ sở vật chất nghèo nàn, nhân lực trình độ cao thiếu hụt (cán bộ trên đại học dưới 5%), chưa có sản phẩm thương mại hóa và thiếu cơ chế giao vốn, giao đất thống nhất từ chính quyền địa phương.

Người đứng đầu trung tâm có vai trò quyết định như thế nào trong quá trình chuyển đổi?
Giám đốc là hạt nhân điều khiển hệ thống, cần hội tụ đủ học vấn, kinh nghiệm và bản lĩnh dám nghĩ dám làm để tái cấu trúc bộ máy, chấp nhận từ bỏ cơ chế bao cấp và dẫn dắt đơn vị thâm nhập thị trường công nghệ.

Kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc mang lại bài học trọng tâm nào cho Việt Nam?
Bài học cốt lõi là thực hiện nguyên tắc ổn định một đầu, mở rộng một đầu; kiên quyết chuyển đổi toàn diện các viện nghiên cứu ứng dụng thành doanh nghiệp (như đợt chuyển đổi 242 viện năm 1999) đi kèm chính sách miễn thuế 5 năm.

Làm thế nào để các trung tâm nhanh chóng gia tăng nguồn thu sự nghiệp tự chủ?
Đơn vị cần tập trung vào các dịch vụ có nhu cầu xã hội cao như kiểm định đo lường, phân tích môi trường nông nghiệp, cung cấp giống cây trồng chất lượng cao và chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt nông thôn.

Kết luận

  • Luận văn đã luận giải vững chắc tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng tại 5 tỉnh Tây Nam Bộ giai đoạn 2005-2009, chỉ rõ điểm nghẽn về cơ cấu nhân sự, tài chính và sự thiếu đồng bộ trong áp dụng chính sách.
  • Xác định 6 yếu tố cơ bản quyết định thành công: năng lực lãnh đạo, chất lượng nhân lực, cơ sở vật chất, cơ chế chính sách, sản phẩm thương mại và nguồn vốn hoạt động.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp khả thi cho giai đoạn tiếp theo, trọng tâm là đào tạo quản trị, tái cấu trúc bộ máy và đa dạng hóa dịch vụ công nghệ nhằm đạt tỷ lệ tự chủ tài chính trên 60%.
  • Các cấp quản lý và thủ trưởng đơn vị khoa học công lập cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị này để biến tổ chức khoa học thành động lực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.