Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP Chương 2.
Quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP 2. Những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN 2. Khảo sát việc thực hiện Nghị định 115 của các tổ chức KH&CN 2. Những yếu tổ cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D theo Nehị định 115/2005/NĐ-CP 20 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CHE TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỎ CHỨC KH&CN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Mặc dù tự chủ không thường xuyên được coi là một biến cấu trúc trong các nghiên cứu về tổ chức nhưng dần dần các nghiên cứu trong một vài thập niên trở lại đây đã phần nào phản ánh yếu tố này. Dill công bố một nghiên cứu về hai doanh nghiệp cua Na Uy trên Tạp chí Quản trị Khoa học.
Bai viết có tên “Môi trường với vai trò một tác nhân đối với tự chủ quản lý”. Trong nghiên cứu của ông, mức độ tự chủ của nhà quản ly và công nhân được đánh giá cùng với các yếu tố môi trường khác. Trong số các kết luận của nghiên cứu, đáng lưu ý là Dill cho rằng mức độ tự chủ càng cao thì nhiệm vụ được giao càng ít phức tạp, rủi ro càng thấp, nhiều quyền kiểm soát đối với các luồng thông tin, và mức độ chính thức của các mối tương tác càng cao. Trong nghiên cứu Các công việc và người lao động của thời đại công nghiệp, xuất bản năm 1965, Turner and Lawrence sử dụng khái niệm tự chủ như là một “thuộc tính nhiệm vụ cần thiết” để có được sự hài lòng về công việc và giảm mức độ bỏ việc của người lao động ở các khu vực nông thôn nhỏ.
Và việc trao cho các nhân viên cấp thấp nhiều quyên tự chủ ra quyết định là cơ sở để giúp tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp., trong nghiên cứu “Hệ thống tổ chức: Hướng tới một lý thuyêt vê quan hệ liên tô chức”, năm 1966, đã tìm hiệu về tự chủ của các tô 21 chức liên quan. Ông đã kết luận các tổ chức ít tự chủ sẽ có nhiều quyền lực hơn. Cũng như các đại biểu của lý thuyết phụ thuộc về chính trị và nguồn lực, các kết quả này phản ánh quyền lực có được là do kiểm soát các nguồn lực. Hackman xuất bản cuốn sách Hành vi trong các tổ chức.
Trong đó, các tác giả cho rang tự chủ là một nhu cầu của con người, theo một nghĩa nào đó thì nó cũng giống như các nhu cầu trong tháp phân cấp nhu cầu của Maslow. Trong nghiên cứu “Các phương diện của tổ chức trong những xã hội phức tạp: Khu vực giáo dục”, đăng trên tạp chí Quản trị Khoa học, năm 1975, của các tác giả Holdaway, E. Heron, nhóm nghiên cứu chỉ ra răng, tập trung hóa và tự chủ thấp, các thành phần cơ bản tạo thành cái được gọi là tập trung quyên lực, có gắn bó chặt chẽ với chuẩn hóa các thủ tục cá nhân, mức độ chuyên biệt hóa chức năng của tô chức thấp, mức độ liên phối hợp thấp, và tỷ lệ nhân lực ngoài thấp. Năm 1980, ba tác giả Osborn, R.
Jauch công bố ấn phẩm “Lý thuyết tổ chức: Một cách tiếp cận tích hợp”. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã kết luận rằng mức độ tự chủ thấp thường gắn với đời sống lao động chất lượng thấp, mặc dù điều này còn phụ thuộc vào từng cá nhân khác nhau. Năm 1991, trong cuốn Các tổ chức: Cau trúc, Quy trình, và Đầu ra, Hall, R. đã bàn về tự chủ của tổ chức.
Tương tự như đối với cá nhân, cũng có thé xem xét tính tự chủ đối với một tổ chức. Ý tưởng này đặc biệt phù hợp với các tô chức mà trong đó bao gồm các bộ phận nhỏ, là thành viên của tổ chức lớn hon, ví dụ như các công ty thuộc một tập doan kinh tế, hay một bộ phân quốc gia của các tổ chức đa quốc gia. RaJagopalan, trong nghiên cứu “Xung khắc trong quản lý và lợi ích của tự chủ: Các tác động đến kết quả hoạt 22 động”, đăng trên Tap chí Quản tri chiến lược, định nghĩa tự chủ của tổ chức là tự do hàng ngày trong quản lý. Hai tác giả Harris và Holden (trong nghiên cứu về tự chủ và kiểm soát năm 2001), cũng như Darr (trong nghiên cứu Kiểm soát và tự chủ đối với nhân viên kinh doanh, năm 2003), đều xem xét tự chủ và kiểm soát cùng với nhau, coi hai yéu t6 này là những luc đối cực của tô chức.
Trong nghiên cứu “Những yếu tố quyết định đến xung đột của các tô chức quốc tế trong việc thương thuyết hợp tác trong khu vực công”, đăng trên Tạp chí Quản trị Khoa học, năm 1975, Kochan và các nhà nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng các tổ chức trong khu vực công có mức độ tự chủ thấp được đặc trưng bởi mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao giữa các bộ phận. Nhóm tác giả cũng nhận thấy các nhà quản lý có xu hướng tập trung hóa việc ra quyết định trong những bối cảnh như thế. Những nghiên cứu về tự chủ trong các bộ phận khác nhau của các tập đoàn đa quốc gia cũng đem lại nhiều kết quả, thường được tiếp cận bằng câu hỏi nghiên cứu: những chức năng cụ thê nào đó có thê được quyết định bởi trụ sở chính hay được phân quyền cho các nhà quản lý ở địa phương. (Nghiên cứu của Gifford, D., năm 1998, “Tự chủ bao nhiêu là đủ”, đăng trên Tạp chí Kính doanh Harvard.
Trong nghiên cứu “Tác động đa dạng hóa toàn cầu đến tự chủ của các công ty con thuộc tập đoàn đa quốc gia”, đăng trên Tạp chí Kinh doanh Harvard, số 9 năm 1999, tác giả Vachani, S. đã chỉ ra rằng tự chủ của các công ty con cao hơn ở một số lĩnh vực chức năng (ví dụ như marketing và nhân sự), so với một số chức năng khác (vi dụ như R&D và tài chính). Brock, trong nghiên cứu “Sự phát triển Quản lý các công ty con: Tổng quan và Phân tích lý thuyết”, tiến hành năm 2002, đăng trên Tạp chí Kinh doanh Quốc tế, đã sử dụng phương pháp đếm từ trong một 23 mẫu các bai báo dé xem các nhà cam quyền đương dai đang theo xu hướng sử dụng các khái niệm liên quan đến tự chủ nhiều hơn hay kiểm soát nhiều hơn. Trong nghiên cứu “Tu chủ và Phụ thuộc của các Tập đoàn liên doanh da quốc gia: Nghiên cứu trường hợp Chiến lược hoạt động của Liên doanh Hoa Kỳ ở Mexico”, đăng trên Tạp chí Quản lý Chiến lược, số 23, năm 2002, các tác gia Robins, J.
Fladmoe-Lindquist, chỉ ra rang néu cdc bộ phan của tập đoàn liên doanh đa quốc gia muốn hoạt động tự chủ, các phương diện tích hợp chiến lược có thé là những nhân tố thành công then chốt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tự chủ sẽ mang lại kết quả mong đợi ở đúng bối cảnh. Hackman va Oldham, trong bài viết “Động lực thông qua thiết kế công việc: Kiểm nghiệm một lý thuyết”, đăng trên tạp chí Hành vi Tổ chức và Hoạt động của cá nhân, năm 1976, chỉ ra rằng tự chủ (cùng với các phương diện cơ bản của công việc khác như ý nghĩa của nhiệm vụ và phản hồi), kích thích những động cơ tích cực, hoạt động, sự thỏa mãn, sự nghỉ việc hay các đầu ra doanh thu. Như vậy, cùng với việc tác động đến các cá nhân trong tổ chức về phương diện thực hiện công việc của họ, tự chủ cũng liên quan đến các biến quan trọng khác ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức.
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa cấp độ cá nhân và tổ chức, có thé sẽ không rõ rệt trong trường hợp đặc biệt, đây là khi phân tích về tự chủ của những người lãnh đạo: ở một mức độ nào đó, những người đứng đầu là đại diện cho tổ chức của họ, tự chủ của một người đứng đầu sẽ tương tự với tự chủ của tổ chức. Từ các nghiên cứu trên đây, có thé thấy tự chủ là một dé tài được nghiên cứu nhiều, cả về lý thuyết và thực tiễn. Các nghiên cứu về chủ đề này đã đưa ra những kết luận nỗi bật như: tự chủ là một yếu tố quan trọng tác động đến tâm lý của nhân viên trong tô chức và hiệu quả hoạt động của tô chức. Tự chủ 24 gồm nhiều loại, tự chủ của người lao động, tự chủ của người đứng đầu tổ chức, tự chủ của tô chức so với các tổ chức cấp trên của nó.
Tự chủ có mối liên hệ chặt chẽ với các khái niệm như tập trung hay phân quyền. Việc thiết kế tổ chức sao cho mức độ tự chủ phù hợp không đơn giản. Mẫu nghiên cứu của các khảo sát về tự chủ như trình bày ở trên khá đa dạng về loại hình tổ chức, tồn tại ở nhiều khoảng thời gian khác nhau trong lịch sử. Nhìn chung, mẫu nghiên cứu chủ yếu là các doanh nghiệp, các công ty đa quốc gia hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh.
Như vậy, phần lược sử tài liệu trên đây cho thấy chưa có nghiên cứu nào làm rõ bản chất của tự chủ trong tổ chức KH&CN. Trên cơ sở đó, luận văn này tìm hiểu về bản chất của tự chủ trong tô chức KH&CN. Tình hình nghién cứu trong nước Ở Việt Nam, tư tưởng về đôi mới hệ thống KH&CN đã hình thành và phát triển trong một số công trình. Nổi bật phải kế đến các nghiên cứu của tác giả Vũ Cao Đàm về chính sách KH&CN, hệ thống KH&CN của Việt Nam.