CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH ĐẦU TƯ ĐIỆN MẶT TRỜI MÁI NHÀ NLTT đang trở thành xu hướng tất yếu. Trong đó, điện gió và điện mặt trời đang mang lại một cuộc cách mạng năng lượng sạch [105]. Các quốc gia đang chuyển sang khai thác ngày càng nhiều hơn các nguồn NLTT nên những nghiên cứu về phát triển NLTT cũng trở nên được quan tâm nhiều hơn. Trong lĩnh vực cung cấp điện, phần lớn việc khai thác các nguồn năng lượng được các DN sản xuất với quy mô lớn và hoà điện lưới quốc gia.
Tuy nhiên, mỗi nguồn năng lượng có cách thức khai thác khác nhau. Trong đó, ĐMTMN với đặc điểm tạo ra điện năng từ các tấm pin mặt trời lắp đặt trên những mặt bằng có thể dễ dàng hấp thu bức xạ mặt trời và được linh hoạt đầu tư bởi cả DN và HGĐ. Điều này mở ra nhiều cơ hội phát triển điện năng nhưng cũng đưa tới nhiều thách thức nhất là cho các nhà quản lý. Chính vì vậy, các nghiên cứu về những yếu tố tác động đến ý định đầu tư trong lĩnh vực điện mái nhà (chủ yếu là của các HGĐ) được đề cập đến nhiều hơn.
Tổng quan nghiên cứu đi từ nhóm các nghiên cứu về phát triển NLTT, tới phát triển ĐMTMN và cuối cùng là các nghiên cứu về yếu tố tác động tới ý định đầu tư trong lĩnh vực ĐMTMN tạo ra một cái nhìn đầy đủ hơn cũng như tìm kiếm khoảng trống nghiên cứu để tác giả có thể tiếp tục và bổ sung vào hệ thống các nghiên cứu về vấn đề này. Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lượng tái tạo Năng lượng luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong cuộc sống của con người. Phát minh ra điện giúp con người bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển. Điện năng đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống.
Khả năng vượt trội trong phát triển kinh tế của các nước công nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào năng lượng [113]. Năng lượng đã được biết đến như một hàng hóa chiến lược và bất kỳ sự không chắc chắn nào về nguồn cung của nó có thể đe dọa hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển. Mọi xã hội đều đòi hỏi năng lượng để đáp ứng các nhu cầu cơ bản [137]. 11 Luke Jame (2021) trong bài nghiên cứu “What is renewable energy? Definition, types, and challenges” cho rằng ở mỗi cuộc cách mạng công nghiệp, con người đều cố gắng tìm kiếm các nguồn năng lượng được cho là hiệu quả.
Thời gian đầu, nguồn năng lượng từ hoá thạch được coi là rẻ và thuận tiện. Chúng đã được sử dụng trong một thời gian dài cho tới khi bắt đầu cạn kiệt và gây ra các vấn đề về môi trường. Khái niệm phát triển bền vững có mặt cũng là lúc nhu cầu mở rộng khai thác các nguồn năng lượng được bổ sung liên tục, vô hạn và sạch càng nhiều hơn để giải quyết các vấn đề mà thế giới đang phải đối mặt vì các nguồn năng lượng truyền thống [105]. Tác giả đã chỉ ra vai trò và xu hướng phát triển của NLTT làm cơ sở cho sự cần thiết nghiên cứu của luận án.
Souvik và Sourav (2017) trong “Opportunities, barriers and issues with renewable energy development – A discussion” cho rằng NLTT đã và đang từng bước đóng vai trò quan trọng trong trong việc cung cấp năng lượng sạch và bền vững, giảm thiểu biến đổi khí hậu [137]. Sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch như: than đá, dầu mỏ, khí đốt đã làm giá cả của chúng ngày càng tăng cao do những khó khăn trong khai thác cùng với các chi phí bảo vệ môi trường bắt buộc. Bên cạnh đó, nhiên liệu hóa thạch còn gây ra hiệu ứng nhà kính trong khí quyển (ước tính chiếm khoảng một nửa lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu) và những lo ngại về biến đổi khí hậu, cùng với nguồn cung không ổn định. Chính vì thế, NLTT được coi là một lựa chọn quan trọng cho việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính trở thành nguồn năng lượng thay thế vô cùng hữu ích, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống năng lượng của mọi quốc gia.
Có thể thấy, nghiên cứu càng khẳng định sự thay thế nhiên liệu hoá thạch bằng NLTT là xu hướng của tương lai và việc nghiên cứu về chúng là phù hợp hiện nay. Nurtaj Vidadili và cộng sự (2017) đã chỉ ra ngay cả tại một quốc gia có lợi thế và dựa chủ yếu vào dầu mỏ như Cộng hòa Azerbaijan thì cũng đang phải gặp những thách thức đối với sự phát triển năng lượng bền vững khi nguồn dầu ngày càng cạn kiệt. Điều này tạo động lực cho Azerbaijan đa dạng hóa nền kinh tế của mình thông qua nền kinh tế xanh, mở đường cho sự ổn định kinh tế lâu dài đồng thời giải quyết các mối quan tâm về môi trường và xã hội trong nước thông qua việc chuyển đổi sang NLTT [113]. 12 Karekezi và Ranja (1997) đã phân tích động lực chuyển đổi sang nguồn NLTT của châu Phi lại bởi sự leo thang của giá dầu, những ưu đãi của thiên nhiên với nguồn NLTT rất lớn gồm cả thuỷ điện, địa nhiệt, sinh khối, năng lượng mặt trời và gió [98].
Các tác giả cho rằng việc chuyển đổi sang sản xuất điện bằng NLTT sẽ giúp các quốc gia tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường và đây là cơ hội nên nắm bắt hiện nay nhất là đối với các quốc gia có dồi dào nguồn lực. Bài nghiên cứu có giá trị kế thừa lớn cho luận án bởi những điều kiện về gió, mặt trời, nước, địa nhiệt ở Việt Nam đều khá đầy đủ cho phát triển các nguồn điện sạch. Shiwei Yu và cộng sự (2020) cũng nghiên cứu về giá trị của NLTT với thực tiễn tại Trung Quốc. Các tác giả cho rằng, phát triển NLTT là một biện pháp quan trọng trong việc giải quyết biến đổi khí hậu và giảm thiểu các-bon [132].
Trung Quốc cũng đang phải chuyển hướng phát triển NLTT thay cho năng lượng hoá thạch và việc nghiên cứu những luận cứ về phát triển NLTT là hết sức cần thiết làm nền tảng cho cách mạng năng lượng trong tương lai. Mỗi quốc gia đều có những bối cảnh riêng nhưng cho đến nay, phát triển NLTT đã trở thành xu hướng đối với mục tiêu bền vững. Đây cũng là cơ sở kế thừa cho luận án để khẳng định tính cấp thiết của nghiên cứu. Hai sáng kiến quan trọng về môi trường toàn cầu cũng đã kích thích sự quan tâm nhiều hơn đến NLTT.
Lần đầu tiên là Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992. Ở đây, một chương trình phát triển và liên quan đến môi trường đầy tham vọng có tựa đề Chương trình nghị sự 21 (REN 21). Điều này còn được nhắc tới ở Công ước về biến đổi khí hậu: [155]. NLTT cũng được đề cao trong chương trình nghị sự của Hội nghị thượng đỉnh thế giới Johannesburg về phát triển bền vững (WSSD).
Trong kế hoạch triển khai hành động do Liên hợp quốc đứng đầu cho WSSD, được đặt tên là WEHAB (viết tắt của Nước, năng lượng, Sức khỏe, Nông nghiệp và Đa dạng sinh học), ưu tiên hàng đầu là dành cho NLTT và các dạng dịch vụ năng lượng thay thế khác. Năm 2021, Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc (COP26) đã đạt được đồng thuận của 197 nước tham dự với việc cam 13 kết giảm thiểu sử dụng than trong sản xuất điện, đặc biệt là động thái của Ấn Độ và Trung Quốc trong việc chấm dứt hỗ trợ điện than và nhiên liệu hoá thạch [156]. Kết quả tổng quan ở trên đều chỉ ra tính quan trọng và tất yếu của phát triển NLTT. Tuy nhiên, điện năng từ NLTT được quan tâm phát triển sau nhiên liệu hoá thạch bởi dựa trên những nghiên cứu tiến bộ về công nghệ, mở rộng khả năng hiểu biết về kiến thức NLTT và sự hỗ trợ tích cực từ các chính phủ với các chính sách thúc đẩy thuận lợi [137].
Chính vì vậy, bên cạnh sự quan tâm tới vai trò của NLTT, các cơ hội, rào cản và các vấn đề liên quan tới sự phát triển của NLTT cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Những điều này nếu được quan tâm một cách tích cực sẽ dẫn đến sự phát triển KT-XH bền vững [141]. Ngược lại, sự phát triển NLTT có thể gặp thất bại bởi các thể chế cứng nhắc, các cuộc đấu tranh chính trị và quyền lực hoặc thiếu năng lực lãnh đạo [49] [63]. Khi các quốc gia đặt ra mục tiêu phát triển NLTT thì cần có các phương pháp tiếp cận toàn diện và phối hợp để lập kế hoạch năng lượng và đánh giá các thiết kế chính sách dài hạn để hướng dẫn quá trình chuyển đổi [84] [83].
Lựa chọn công cụ pháp lý phù hợp là một nghệ thuật đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xây dựng quy định pháp luật. Các loại phí ô nhiễm hoặc thuế phát thải ra môi trường khi sử dụng năng lượng hoá thạch có thể tạo động lực phát triển NLTT [104]. Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc phát triển NLTT thông qua các chính sách, quy định và luật pháp [66]. Các nghiên cứu ở trên mang lại giá trị kế thừa lớn cho luận án, là cơ sở cho việc lựa chọn nghiên cứu.
Đó là: NLTT sẽ thay đổi cuộc sống, cách thức sản xuất trong tương lai và nghiên cứu về NLTT hiện nay vừa cấp thiết, vừa phù hợp với xu thế. Bên cạnh đó, để phát triển NLTT phải kể đến vai trò nhà nước. Chính sách của chính phủ sẽ tác động không nhỏ tới các hoạt động đầu tư, sản xuất và sử dụng điện từ NLTT. Các nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay cũng tập trung vào việc tìm hiểu chuyển đổi công nghệ sản xuất điện từ năng lượng truyền thống sang NLTT.
Phạm Thị Thanh Mai (2017) đã chỉ ra việc thành lập cơ sở dữ liệu về công nghệ năng lượng bao gồm cả công nghệ năng lượng truyền thống và công nghệ NLTT, xây dựng hệ thống năng lượng tham chiếu, phân tích chi phí - lợi ích của ngành năng lượng tại Việt Nam thông qua phát triển nhiều kịch bản tương lai hoặc từ việc đánh giá tiềm năng phát triển 14 NLTT để xây dựng pháp luật về khuyến khích phát triển nguồn NLTT thân thiện với môi trường. Phan Duy An (2021) nghiên cứu chi tiết hơn về khía cạnh pháp luật để phát triển NLTT.