CHƯƠNG 1 Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE liên quan đến hiệu quả HĐKD, tình hình các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh Farrell, M. (1957) cho rằng hiệu quả HĐKD tại một tổ chức kinh doanh nào thì vẫn dựa trên hai chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối.
Trong đó chỉ tiêu tuyệt đối phản ảnh về quy mô hay lợi nhuận đạt được trong điều kiện thời gian cụ thể. Tuy nhiên đối với hiệu quả tuyệt đối thì về so sánh giữa đơn vị này và đơn vị khác sẽ gặp những sự hạn chế. Nhưng đối với chỉ tiêu tương đối thì dựa trên các tỷ số kết hợp với yếu tố đầu vào và đầu ra của đơn vị kinh doanh, việc đánh giá này sẽ tạo ra sự thuận tiện khi muốn so sánh giữa tổ chức này và tổ chức khác. Khi đánh giá hiệu quả tương đối thì đơn vị kinh doanh có thể xem xét việc một yếu tố đầu vào bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận.
Việc đánh giá hiệu quả tương đối có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét đơn vị kinh doanh này sử dụng tối ưu các nguồn lực hay các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra những yếu tố đầu ra chất lượng và đem lại lợi ích cao nhất. Theo hướng tiếp cận tổ chức kinh doanh là đơn vị sản xuất thì Benston, G. (1965) cho rằng các doanh nghiệp được xem là các nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong đó các yếu tố đầu vào bao gồm các tài sản có trạng thái vật lý như lao động, không gian, vật liệu hay các hệ thống thông tin và các chi phí liên quan.
Đối với đầu ra thì đó là các sản phẩm được cung cấp cho khách hàng tính theo số lượng giao dịch, loại giao dịch hay các văn bản được xử lý cho khách hàng tại một thời gian nhất định. Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) thì cho rằng hiệu quả HĐKD được xem là mức độ biểu hiện cao nhất, tập trung nhất về hiệu quả kinh doanh hay nó chính là khả năng sinh lời. Do đó, phân tích hiệu quả HĐKD là sự xem xét về khả năng sinh lời được tạo ra từ các nguồn lực trong HĐKD của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng sinh lời chỉ có thể có được khi doanh nghiệp có khả năng hoạt động tốt, nó được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn 10 lực.
Vì vậy, doanh nghiệp có hiệu quả HĐKD được xem xét thông qua tổ chức có kinh doanh tốt và về mặt tài chính có tồn tại khả năng sinh lời hay không. Nguyễn Tấn Bình (2022) cho rằng hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu về từ chi phí và nguồn lực mình đầu tư để đạt được kết quả đó. Hiệu quả HĐKD có thể xác định thông qua các tiêu chí kinh tế đặc trưng như tỷ lệ so sánh giữa kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu chi phí hay nguồn lực đã sử dụng trong HĐKD để tạo ra lợi nhuận. Tóm lại tại luận văn này thì hiệu quả HĐKD được hiểu là các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào của mình như lao động, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác tạo ra các sản phẩm đầu ra, sau đó thương mại chúng và sinh ra lợi nhuận.
Hay nói cách khác, hiệu quả HĐKD được hình thành khi các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa được các nguồn lực của mình để kinh doanh sinh ra lợi nhuận tương xứng với quy mô hay tạo ra được năng lực cạnh tranh với các đối thủ trong ngành. Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh 2. Đo lường biên lợi nhuận Biên lợi nhuận hay lợi nhuận biên là một trong những tỷ suất sinh lời thường được sử dụng để đánh giá mức độ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh dưới dạng phần trăm. Nói một cách đơn giản, đó là con số phần trăm cho biết doanh nghiệp đã tạo ra bao nhiêu lợi nhuận cho mỗi đơn vị doanh thu.
Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp khi phân tích về lợi nhuận biên của doanh nghiệp thay đổi khi có một yếu tố đầu vào thay đổi, hay nói cách khác với phương pháp này thì doanh nghiệp sẽ xem xét được với nguồn lực của mình thay đổi một đơn vị thì lợi nhuận sẽ thay đổi thế nào (Allen N. Berger & Robert DeYoung, 1997). Nhưng với phương pháp này thì các doanh nghiệp cần phải có sự nghiêm ngặt khi thu thập các giá trị liên quan đến đầu vào và tổng quát hóa với dạng hàm số, nên sẽ rất khó khăn trong việc thiết lập bài toán và kỹ thuật cần phải đầu tư. Biên lợi nhuận gộp: Biên lợi nhuận gộp là chỉ số có được khi ta lấy lợi nhuận 11 gộp chia cho Doanh thu thuần (tính theo tỷ lệ %).
Biên lợi nhuận gộp được tính theo công thức sau đây: Biên lợi nhuận gộp = (Lợi nhuận gộp) : (Doanh thu thuần x 100%) Trong đó: - Doanh thu thuần = (Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ) - (Các khoản giảm trừ doanh thu) - Lợi nhuận gộp = (Doanh thu thuần) - (Giá vốn hàng bán) Biên lợi nhuận gộp cho biết khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận từ sản phẩm hoặc dịch vụ của họ. Nó cũng cho phép so sánh hiệu suất kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành. Biên lợi nhuận hoạt động: Biên lợi nhuận hoạt động thể hiện cứ mỗi 100 đồng doanh thu thuần sẽ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, từ đây đánh giá rõ hơn hiệu quả của các khoản chi phí khi tham gia vào quá trình kinh doanh. Biên lợi nhuận hoạt động được tính theo công thức sau đây: Biên lợi nhuận hoạt động = (Lợi nhuận trước thuế) : (Doanh thu thuần) x 100% Biên lợi nhuận hoạt động cho biết khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận sau khi trừ chi phí hoạt động liên quan đến sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ của họ.
Nó cũng cho phép đánh giá hiệu quả của quản lý chi phí và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Biên lợi nhuận ròng: Biên lợi nhuận ròng thể hiện mỗi 100 đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, từ đó chủ doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư sẽ thấy được với 1% gia tăng của doanh thu thì cổ tức hoặc thu nhập ròng sẽ tăng tương ứng là bao nhiêu %. Biên lợi nhuận ròng được tính theo công thức sau đây: Biên lợi nhuận ròng = (Lợi nhuận sau thuế) : (Doanh thu thuần) x 100% Biên lợi nhuận ròng cho thấy khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận sau khi trừ tất cả chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh. Nó đóng vai trò như 12 một thước đo để chia sẻ với các nhà đầu tư tiềm năng.
Đo lường hiệu quả HĐKD thông qua các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Theo Trần Ngọc Thơ (2018) để đo lường hiệu quả HĐKD tại các doanh nghiệp có thể sử dụng các tỷ suất chính như ROA, ROE, ROS, ROI. Đây là các hệ số đo lường lợi nhuận ròng của doanh nghiệp được tạo ra từ các nguồn lực hay tài sản của doanh nghiệp hoặc VCSH từ các cổ đông góp vào doanh nghiệp. Hay nói cách khác, các hệ số này thể hiện lợi nhuận của doanh nghiệp được tại ra khi sử dụng các nguồn lực của mình hoặc trên một đồng VCSH được góp vào. Các chỉ tiêu này được tính toán và báo cáo trên các bản báo cáo kinh doanh hay tài chính của doanh nghiệp vào những thời điểm cụ thể, nhằm phục vụ cho việc đánh giá sự tăng trưởng hay hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp.
Tóm lại trong hai phương pháp nói trên thì phương pháp đo lường biên lợi nhuận nghiêng về phức tạp và tâp trung nhiều dạng hàm số dựa trên mối quan hệ giữa các nguồn lực đầu vào và đầu ra để phân tích nên khó thực hiện. Tuy nhiên, đối với phương pháp tỷ số thì chủ yếu các số liệu có thể thu thập được trên các báo cáo kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, luận văn này kế thừa phương pháp tỷ số để đại diện cho hiệu quả HĐKD các doanh nghiệp tại Việt Nam. Các tỷ suất sinh lời đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo Lesakova (2007) hiệu quả HĐKD là chỉ số về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, thể hiện qua khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) đã chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản bình quân (ROA) để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu ROA thể hiện quá trình tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không. Kết quả chỉ tiêu ROA cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận ròng trên VCSH bình quân (ROE) cũng được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu ROE phản ánh khả năng sử dụng đồng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận cho 13 doanh nghiệp. Việc phân tích khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho thấy khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng tiền vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Việc xem xét chỉ tiêu này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA): Tỷ số này được thiết kế để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản.
Tỷ số này phản ánh một đồng tài sản bình quân của doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.