Phần mở đầu sẽ nêu lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, và đóng góp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về túi phân hủy sinh học bao gồm: khái niệm, đặc tính của túi phân hủy sinh học. Trình bày cơ sở lý luận về ý định sử dụng, và các lý thuyết mô hình liên quan, đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài luận văn. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm túi nilon Khái niệm này có thể hiểu là túi nilon hay còn gọi là túi bóng, là một loại bao bì bằng nhựa, mỏng, nhẹ và rất dẻo dai.
Nguyên liệu chính để sản xuất túi nilon là các hạt nhựa tổng hợp và các phụ gia như chỉ, cadimi,.để tạo màu, tăng tính chóng thấm nước, chống ẩm và khả năng chịu lực (Phát, 2020). Theo như thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường, mỗi năm chúng ta sử dụng hơn 30 tỷ túi nilon, trung bình mỗi gia đình sẽ sử dụng từ 5 – 7 túi nilon/ngày. Đa phần các túi nilon đều sử dụng duy nhất một lần. Ở hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có 80 tấn rác thải nhựa thải ra môi trường và lượng rác thải nilon chiếm 7 – 8% (Phát, 2020).2 Khái niệm túi phân hủy sinh học Túi tự phân hủy sinh học là túi được làm từ nguyên liệu hữu cơ như bột mì, bột bắp, bã mía, xơ dừa,.Khi túi này được thải ra môi trường dưới tác động của vi sinh vật, lọai túi này sẽ chuyển hóa thành chất hữu cơ dễ hòa tan hoặc là thành cacbonic, nước, các khoáng chất vô cơ,.Chính vì vậy túi tự phân hủy sinh học không gây ô nhiễm như túi nhựa, và đang được khuyến khích sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hiện đại của chúng ta (Phát, 2020).
Theo thông tư 07/2012/TT-BTNMT ngày 04/07/2012 của Bộ tài nguyên môi trường quy định tại điều 8: Túi nilon thân thiện với môi trường phải đáp ứng các tiêu chí sau: 1. Túi nilon có một trong hai đặc tính kỹ thuật sau: a) Có độ dày lớp màng lớn hơn 30 µm (micromet), kích thước nhỏ nhất lớn hơn 20 cm (xăngtimet) và tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu túi nilon phải có kế hoạch thu hồi, tái chế. b) Có khả năng phân hủy sinh học tối thiểu 60% trong thời gian không quá (02) năm. Túi nilon có hàm lượng tối đa cho phép của các kim loại nặng quy định như sau: Asen (As): 12mg/kg, Cadimi (cd): 2mg/kg, Chì (Pb): 70mg/kg, Đồng (Cu): 50mg/kg, Kẽm (Zn): 200mg/kg, Thủy ngân (Hg) 1mg/kg, Niken (Ni): 30mg/kg.
Túi nilon được sản xuất tại hộ gia đình, tại cơ sở sản xuất tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.3 Ý định sử dụng Ý định sử dụng được định nghĩa là khái niệm phản ánh niềm tin của người tiêu dùng liên quan đến chuỗi hành vi tiêu dùng (Ajzen, 1991) là động lực cá nhân trong nhận thức kế hoạch/ quyết định của họ để phát huy nổ lực trong việc thực hiện một hành vi cụ thể. Ý định sử dụng túi phân hủy sinh học phản ánh niềm tin của người tiêu dùng liên quan đến chuỗi hành vi tiêu dùng sản phẩm có thể xem là hình thức cụ thể của hành vi thân thiện môi trường được thể hiện qua sự quan tâm của người tiêu dùng về môi trường (Muhammad & Ziar-ur, 2013). Lý thuyết về hành động hợp lý được chấp nhận rộng rãi để giải thích hành vi sử dụng túi phân hủy sinh học của người tiêu dùng được trình bày bởi (Fishbein & Ajzen, 1975). Thái độ người tiêu dùng về những vấn dề môi trường mạnh mẽ sẽ xác định hành vi thực tế và hành vi sử dụng túi phân hủy sinh học của họ (Albayrack, Aksoy, & Caber, 2013).
Và lý thuyết về hành động có kế hoạch được (Ajzen, 1991) tiếp tục khẳng định rằng ý định sử dụng là một yếu tố quyết định quan trọng của hành vi sử dụng thực tế của người tiêu dùng. Nghĩa là ý định sử dụng túi phân hủy sinh học tăng thì xác suất một người sẽ thực sự thúc đẩy hành vi sử dụng cũng tăng. Hơn nữa, niềm tin đạo đức người tiêu dùng cũng đã chứng minh là yếu tố quan trọng trong dự đoán hành vi sử dụng (Arli & Tjiptono, 2014).4 Các thành phần trong ý định sử dụng 2.1 Thái độ đối với hành vi sử dụng Thái độ được xem là tiền đề quan trọng đến ý định, hành vi và được mô tả là mức đánh giá thuận lợi hay bất lợi của hành vi. Nếu một cá nhân có ý định thực hiện hành vi nào đó khi người đó đánh giá nó một cách tích cực (Ajzen, 1991).
Thái độ càng tích cực thì ý định thực hiện hành vi đó càng mạnh mẽ. Vì vậy thái độ được xem là nhân tố dự đoán tiềm năng để dẫn đến hành vi thực tế của người tiêu dùng. 7 Theo Chen và Chai (2010) cũng đã thông qua định nghĩa thái độ là một hành động thể hiện cho những gì người tiêu dùng thích và không thích, thái độ quan tâm về môi trường đều bắt nguồn từ quan niệm một cá nhân xem bản thân là thành phần không thể thiếu của môi trường tự nhiên. Mô hình TPB đã chỉ ra rằng thái độ đối với hành động có ảnh hưởng mạnh và tích cực đến ý định hành động.
Mối quan hệ này cũng đã được kiểm định qua các nghiên cứu về hành vi sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường (Kumar, 2012); (Wu & Chen, 2014).2 Chuẩn mực chủ quan Theo Fishbein và Ajzen (1975), Chuẩn mực chủ quan được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân với người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi đó nên hay không nên thực hiện. Chuẩn mực chủ quan có thể đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành vi, là động lực cá nhân thực hiện phù hơp với sự mong đợi đó (Fishbein & Ajzen, 1975). Chuẩn mực chủ quan cũng gồm hai thành tố tương tác lẫn nhau là niềm tin cá nhân và cách hành xử của họ cho là người quan trọng với họ mong muốn (niềm tin chuẩn mực) và sự thúc đẩy làm theo.3 Sự kiểm soát hành vi cảm nhận Theo Ajzen (1991) cho rằng sự kiểm soát hành vi nhận thức trong mô hình TPB “là nhận thức của con người về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi mong muốn”. Sự quan trọng của kiểm soát hành vi để biết được khả năng của một cá nhân hoàn thành hành vi ở mức độ nào.
Sự kiểm soát hành vi cảm nhận là mức độ cá nhân đó họ có khả năng thực hiện được hành vi và có hai mặt: mức độ kiểm soát hành vi của cá nhân và sự tự tin thực hiện hay không thực hiện của cá nhân đó. Nó được xác định bởi niềm tin kiểm soát yếu tố bên trong và bên ngoài có khả năng gây cản trợ họ hay không.2 Các lý thuyết liên quan - Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) 8 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng năm 1967 bởi Fishbein, sau đó được sửa đổi và mở rộng bởi (Fishbein & Ajzen, 1975). Theo lý thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra một số lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp và công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi của một người. Theo mô hình cho thấy ý định hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan hành vi.
Trong đó: Thái độ là cảm giác tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành động hoặc một hành vi. Thể hiện thái độ của cá nhân đánh giá kết quả đánh giá hành động tích cực hay là tiêu cực. Chuẩn mực chủ quan là cách ứng xử của một người như thế nào để phù hợp với tiêu chuẩn xã hội. Đó là niềm tin của cá nhân về việc người khác sẽ nghĩ thế nào về hành động của mình.
Ngoài ra, chuẩn mực chủ quan đại diện cho cá nhân tự nhận thức rằng những người quan trọng đối với việc ra quyết định của họ, mong muốn họ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi cụ thể nào đó. Ý định thực hiện hành vi sẽ được hình thành nếu như một người mong đợi họ cho rằng hành vi sẽ mang lại kết quả tích cực và những người xung quanh luôn ủng hộ, khuyến khích thực hiện hành vi đó. Cũng có nghĩa là, cá nhân thực hiện hành động xuất phát từ một nguyên nhân cụ thể đó là sự kì vọng vào kết quả tích cực hành động và niềm tin mọi người luôn ủng hộ hành động của mình. Theo Ajzen và Fishbein (1975), thái độ được hình thành bởi hai nhân tố: (1) niềm tin của cá nhân về kết quả của hành vi (là niềm tin về hành vi của mình sẽ mang lại một kết quả theo tính chất nhất định) và (2) đánh giá của cá nhân đó về kết quả này.
Chuẩn mực chủ quan được hình thành hai nhân tố: (1) niềm tin về những người có ảnh hưởng sẽ cho rằng cá nhân nên thực hiện hành vi (là cảm giác về những người xung quanh đồng tình hay không đồng tình về hành vi của mình) và (2) động lực tuân thủ theo những người có ảnh hưởng này (ý định của cá nhân đó có bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh hay không). 9 Niềm tin và kết quả hành động Thái độ Đánh giá kết quả hành động Ý định Hành vi hành vi Niềm tin vào tiêu chuẩn của người xung quanh Tiêu chuẩn chủ quan Động lực để tuân thủ những người xung quanh Hình 2. 1 Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) Nguồn Ajzen và Fishbein, 1975. - Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của thuyết hành động hợp lý (Fishbein & Ajzen, 1975).
Tương tự như thuyết TRA nhân tố trung tâm là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định.