Chương 1 Luật Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Nhà xã hội học Cohen (2013) lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thu nhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” 7 2.3 Phân loại khách du lịch Phân loại khách du lịch theo mục đích chuyến đi dựa vào mục đích chuyến đi của du khách mà công ty du lịch đưa ra những tour du lịch, dịch vụ du lịch phù hợp. Khách du lịch được phân theo mục đích chuyến đi thường có 3 nhóm: - Nhóm khách du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi: nhóm khách này thường nhằm mục đích tìm kiếm những điều mới mẻ, thú vị; trải nghiệm những nét đặc trưng của văn hóa, ẩm thực; nâng cao hiểu biết về điểm đến; có những phút giây thư giãn, thoải mái bên gia đình, bạn bè,. Nhóm khách này thường chiếm tỷ lệ cao nhất, được các doanh nghiệp hướng đến để xây dựng nhiều tour hấp dẫn cho du khách.
- Nhóm khách du lịch kinh doanh, công vụ: nhóm khách này thường là đi công tác, kinh doanh, trong đó kết hợp với tham quan và nghỉ ngơi nhẹ nhàng, nhưng vẫn đảm bảo được công việc chính là kinh doanh, công tác, tham dự sự kiện, hội nghị,. - Nhóm khách du lịch thăm thân: Nhóm khách này không quá áp lực vào vấn đề kinh té và thường không có lịch trình cụ thể cho từng điểm đến.4 Khái niệm loại hình du lịch Theo Williams và cộng sự (2009) có 10 loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chia này: - Du lịch thiên nhiên: Loại hình du lịch này hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức những phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã. Những người đi du lịch trong nhóm này muốn tìm đến vẻ đẹp và đời sống hoang sơ của vườn quốc gia Cúc Phương, phong cảnh hùng vĩ nhưng tĩnh lặng của Ngũ Hành Sơn. - Du lịch văn hóa: Loại hình này thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật.
của điểm đến. Những du khách này sẽ viếng thăm các viện bảo tàng, nghỉ tại các quán trọ 8 đồng quê, tham dự các lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của địa phương. - Du lịch xã hội: Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng nhất. Đối với một số người khi được đồng hành với các thành viên của một nhóm xã hội trong các tour du lịch cũng làm họ thõa mãn, hài lòng.
Một số người khác tìm kiếm cơ hội được hòa nhập với cư dân bản xứ ở điểm đến. Thăm gia đình cũng có thể được bao hàm trong loại này. - Du lịch hoạt động: Loại hình du lịch này thu hút khách bằng một hoạt động xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kỳ nghỉ của họ. Một số du khách muốn thực hành và hoàn thiện vốn ngoại ngữ của mình khi đi du lịch nước ngoài.
Một số người khác muốn thám hiểm, khám phá cấu tạo địa chất của một khu vực nhất định. - Du lịch giải trí: Loại hình này nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Loại hình du lịch này thu hút những người mà lý do chủ yếu của họ đối với chuyến đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ. Họ thường đến những bờ biển đẹp, tắm dưới ánh nắng mặt trời, tham gia vào các hoạt động như cắm trại, các trò chơi có tổ chức và học các kỹ năng mới.
- Du lịch thể thao: Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe. Tham gia chơi các môn thể thao như quần vợt, đánh gôn, bóng chuyền bãi biển, lướt són, trượt tuyết, đi xe đạp đường trường.là những ví dụ cho các hoạt động phù hợp với loại hình du lịch này. - Du lịch chuyên đề: Loại hình du lịch này liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ. Ví dụ như: những người kinh doanh xe ô tô đến thăm một nhà máy sản xuất ở nước ngoài hoặc một nhóm sinh viên đi một tour thực tập, nghiên cứu.
- Du lịch tôn giáo: hài lòng nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo phái khác nhau. Nó bộc lộ trong các cuộc hành hương đến những nơi có ý nghĩa 9 tâm linh hay những địa điểm tôn giáo được tôn kính. Đây là loại hình du lịch lâu đời nhất và vẫn còn phổ biến đến ngay nay. - Du lịch sức khỏe: hấp dẫn những người tìm kiếm co hội cải thiện điều kiện thể chất của mình.
Các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển, các điểm có suối nước nóng hoặc nước khoáng là những noi điển hình tạo ra loại du lịch này. - Du lịch dân tộc học: Loại du lịch này đặc trưng hóa cho những người quay trỏ về quê cha đất tổ tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc của quê hưong, dòng doi gia đình hoặc tìm kiếm khôi phục các truyền thống văn hóa bản địa. Để đon giản hóa và hệ thống hóa, có thể phân các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi làm 2 nhóm chính: - Nhóm có mục đích du lịch thuần túy: bao gồm các loại hình du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao (chơi, tập luyện), khám phá. - Nhóm có mục đích kết hợp du lịch: bao gồm các loại hình du lịch tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao (thi đấu, cổ vũ), kinh doanh công tác, chữa bệnh, thăm thân.Mặc dù, mỗi loại hình du lịch có đặc trưng riêng, nhưng trong thực tế thường không thể hiện nguyên một dạng mà có thể két hợp một vài loại hình du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi.
Ví dụ như du lịch nghỉ ngơi với du lịch văn hóa, học tập; du lịch giải trí nghỉ ngơi vơi du lịch thăm hỏi.5 Khái niệm hành vi du lịch Hành vi của khách du lịch là điều quan trọng cần biết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp du lịch (Zhang và cộng sự, 2014). Theo (Mathieson và Wall, 1982) các giai đoạn của hành vi khách du lịch được chia thành năm giai đoạn: 1) khách du lịch nhận ra nhu cầu du lịch; 2) khách du lịch thu thập thông tin liên quan đến du lịch; 3) khách du lịch xác định quyết định du lịch, sau đó là một chuyến tham quan; 4) giai đoạn cuối cùng đánh giá chuyến đi du lịch đã được thực hiện. Ngành du lịch cần tìm hiểu về hành vi của khách du lịch để dự đoán tính bền vững của hoạt động kinh doanh. Dựa trên một số nghiên cứu cho thấy hành vi của khách 10 du lịch trong việc xác định điểm đến du lịch bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố.
Thứ nhất, các yếu tố cụ thể của việc ra quyết định của khách du lịch là tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập, trình độ học vấn, lối sống, giá trị cá nhân, động cơ du lịch. Thứ hai, Các yếu tố cụ thể cho các điểm du lịch thay thế như các thuộc tính của điểm du lịch bao gồm điểm du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, dịch vụ và khả năng tiếp cận của điểm du lịch. Hơn nữa, thứ ba là các yếu tố tình huống bao gồm thời tiết điều kiện, điều kiện văn hóa của điểm du lịch, và điều kiện xã hội như điều kiện chính trị trong việc lựa chọn điểm du lịch.6 Khái niệm ỷ định du lịch Ý định đi du lịch liên quan đến mong muốn hoặc ý định của khách du lịch trong việc thực hiện một chuyến tham quan. Có nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố thúc đẩy chính của ý định đi du lịch là các nguồn thông tin và cá nhân.
Nguồn thông tin được cho là quan trọng hơn yếu tố cá nhân trong bối cảnh hình thành nhận thức về điểm đến du lịch. Ý định đi du lịch cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố rủi ro mà khách du lịch cảm nhận được và nhận thức của họ về sự an toàn. Các yếu tố rủi ro có thể tạo ra sự lo lắng ở khách du lịch tương lai về những gì có thể xảy ra với họ khi đi du lịch. Tư duy du lịch là một điều quan trọng cần được hiểu của ngành du lịch, hiện đang bị tàn phá bởi đại dịch covid-19.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) là một trong những cách mà nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng để tìm hiểu suy nghĩ của khách du lịch khi đi du lịch. Lý thuyết này không chú ý đến ảnh hưởng của hành vi trong quá khứ có thể ảnh hưởng đến ý định và hành vi (Leone và cộng sự, 2004). Hành vi của con người chịu ảnh hưởng của ý định dựa trên ba yếu tố cơ bản, đó là thái độ đối với hành vi, các chuẩn mực chủ quan và hành vi kiểm soát (Ajzen, 2005).2 Lý thuyết về hành vi 2.1 Lỷ thuyết hành vi hợp lỷ (TRA - Theory of Reasoned Action) Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) là một lý thuyết cổ điển về ý định hành vi. Theo Ajzen & Fishbein (1988) xác định mối quan hệ giữa thái độ và hành vi của con người và hành động của họ (Ajzen & Fishbein 1988) và đã được sử dụng để dự đoán hành vi của mọi người dựa trên thái độ và ý định hành vi trước đây của họ.
Quyết định của họ để tham gia vào một hành vi nhất định phụ thuộc vào kỳ vọng của họ về kết quả của việc thực hiện hành vi đó (Ribeiro và cộng sự. Lý thuyết có ba thành phần chính: ý định hành vi, thái độ và các chuẩn chủ quan như được trình bày trong Hình 2. Lý thuyết TRA giải thích cách hành vi có ý định, như một tiền đề của hành động thực tế, liên quan đến thái độ của một người đối vói một hành vi cụ thể và các chuẩn chủ quan của họ về hành vi đó (Nisson & Earl 2020). Lý thuyết TRA đã chỉ ra rằng tư duy định hướng hành động và kỳ vọng chủ quan về hành vi có thể đồng dự đoán được (Nisson & Earl 2020).