chương 1 này, tác giả đã trình bày có 7 mục nội dung chính thức để giới thiệu khái quát về đề tài, lý do hình thành đề tài. Ngoài ra, chương này tác giả còn giới thiệu mục tiêu, ý nghĩa, phạm vi giới hạn, phương pháp và bố cục của đề tài. Đây là nội dung tiền đề quan trọng để làm căn cứ phát triển các nội dung chương 2 và các chương tiếp theo trình bày các lý thuyết nền tảng của nghiên cứu, các khái niệm có liên quan, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát biểu của các giả thuyết cùng với các kết quả nghiên cứu khác. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý luận về sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức 2. Sự sáng tạo DiLiello & Houghton, (2006) kết luận “SST (creativity) là một khái niệm khó định nghĩa, các nhà nghiên cứu không đồng ý hoàn toàn với một khái niệm nào”. Vì vậy khái niệm của nó có nhiều cách định nghĩa. Theo Amabile (1996) thì “SST là việc tạo ra những ý tưởng mới và hữu ích trong một lĩnh vực nào đó.
Các lĩnh vực ở đây là những hoạt động của con người từ khoa học, nghệ thuật, kinh doanh cho đến những hoạt động thường ngày”. Sản phẩm hoặc ý tưởng được xem là sáng tạo, khi nó phải có sự khác biệt so với các sản phẩm/ ý tưởng đã có ttrước đó. Cũng theo Amabile (1996) “bởi vì có nhiều quan niệm sai lầm về SST, cho nên điều quan trọng là nhận ra SST không phải là: (1) Tính cách; (2) Nghệ thuật; (3) Sự thông minh; (4) Điều tốt đẹp” Woodman & cộng sự (1993) cho rằng “SST là việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, thủ tục hay quá trình mới, hữu ích và có giá trị”. Ở đây, Woodman & cộng sự (1993) “nhấn mạnh đến ba tính chất đó là mới, có ích và có giá trị trong khi Amabile chỉ nhắc đến sự mới mẻ và có ích”.
Kreitner & Kinicki (2004) kết luận “SST được định nghĩa là quá trình sử dụng trí tưởng tượng và kỹ năng để phát triển một ý tưởng, sản phẩm, đối tượng, hoặc quá trình mới hoặc độc đáo”. Oldham & Cummings, (1996) định nghĩa “SST (Creativity) là việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm, quy trình vừa có tính mới vừa có tính hữu ích” Tóm lại, tác giả kế thừa quan điểm SST từ Oldham & Cummings (1996), ông cho rằng, “SST là việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm, quy trình vừa có tính mới vừa có tính hữu ích”. Amabile, (1997) chỉ ra “trong quá trình sáng tạo, ĐLLV là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự khác biệt giữa những gì một người có thể làm và 8 những gì người đó sẽ làm”. Nghiên cứu này xem xét hai loại động lực chính ảnh hưởng đến SST, đó là: “(1) Tự tin sáng tạo, (2) động lực nội tại”.
Sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức Theo Woodman & cộng sự, (1993) “SST trong tổ chức là việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, thủ tục hay quá trình mới, hữu ích và có giá trị bởi các cá nhân làm việc với nhau trong một hệ thống xã hội phức tạp”. Amabile (1996, 1998) định nghĩa “SST là việc tạo ra ý tưởng mới và hữu ích, còn sự đổi mới là việc áp dụng thành công ý tưởng đó ở cấp độ tổ chức”. Shalley và cộng sự (2004) kết luận “trong thời gian qua, SST trong tổ chức được định nghĩa là sự phát triển những ý tưởng về sản phẩm, ứng dụng, dịch vụ hay quá trình mà nó (a) mới mẻ và (b) có sự hữu ích tiềm năng đối với tổ chức đó. Một ý tưởng được xem là mới nếu nó mang tính độc đáo hơn so với những ý tưởng hiện tại trong tổ chức”.
Shalley & cộng sự, (2004) cho rằng “một ý tưởng được xem là hữu ích khi nó có tiềm năng mang lại giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức, trong ngắn hạn cũng như dài hạn”., (2005) nhận định “hai yếu tố quan trọng để xem một hoạt động là sáng tạo trong tổ chức chính là: Tính mới và sự hữu ích đối với tổ chức”. Vì vậy, các thuật ngữ “mới lạ”, “phù hợp” và “chấp nhận được” được sử dụng rộng rãi trong các lý thuyết (DiLiello & Houghton, 2006). Theo tác giả, SST của NV là việc NV tạo ra các sản phẩm mới/ quy trình cải tiến sản phẩm/ quy trình mới/ dịch vụ mới, mang lại giá trị mới cho tổ chức. Sự khác biệt về sáng tạo ở các cấp độ khác nhau được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra.
Amabile, Shalley, Olham & Cummings (1996) cho rằng “SST của NV khác với sự đổi mới. Hoạt động sáng tạo liên quan đến sản phẩm, ý tưởng tạo ra ở cấp độ cá nhân, trong khi sự đổi mới là việc ứng dụng thành công những sản phẩm đó ở cấp độ tổ chức”. Theo đó, “SST của cá nhân hoặc nhóm là xuất phát điểm cho sự đổi mới” Woodman & cộng sự (1993) sử dụng thuật ngữ SST của tổ chức (organizational creativity) tương đương với thuật ngữ SST (creativity) của Amabile. Ngoài ra, các cấp độ của SST được ông chia ra như: “Sáng tạo của cá nhân, sáng tạo 9 của nhóm, và sáng tạo của tổ chức”.
Khác với Amabile, Woodman (1993) cho rằng “không phải tất cả đổi mới đều xuất phát từ việc ứng dụng ý tưởng sáng tạo bên trong tổ chức”. Ông biện luận: “Mặc dù SST có thể tạo ra sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, quy trình mới mà được ứng dụng thông qua sự đổi mới nhưng sự đổi mới còn có thể bao gồm việc sử dụng sản phẩm hoặc quá trình đã có, mà nó được tạo ra bên ngoài tổ chức” (Woodman & cộng sự, 1993). Tuy nhiên, Mostafa, (2004) kết luận “trong thực tế, khái niệm SST và đổi mới được dùng một cách thay thế lẫn nhau trong nghiên cứu lý thuyết”. Nghiên cứu này tiếp cận SST trong tổ chức là hành vi ở cấp độ cá nhân.
Oldham & Cummings, (1996) định nghĩa “SST (Creativity) được định nghĩa là việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm, quy trình vừa có tính mới vừa có tính hữu ích”. Amabile, (2012) kết luận “Trong quá trình sáng tạo, động lực làm việc là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự khác biệt giữa những gì một người có thể làm và những gì người đó sẽ làm”. Nói tóm lại, SST của NV trong tổ chức chính là hành vi của một người bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong tổ chức của NV như kiến thức, động lực làm việc, kỹ năng, cách làm việc, cách tư duy… cùng với đó là các yếu tố bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài như sự khuyến khích, sự hỗ trợ của tổ chức, các nguồn lực, hoạt động quản lý. Bên cạnh đó, yếu tố như phong cách lãnh đạo, định hướng khách hàng, cam kết với tổ chức, giá trị cá nhân cũng có ảnh hưởng đến SST được các nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh.
Yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức Amabile (1996) cho rằng “có ba yếu tố thuộc về tổ chức mà có ảnh hưởng đến SST của NV là: Động lực đổi mới của tổ chức (organizational motivation), các nguồn lực (resources) và các hoạt động thực tiễn quản lý (management practices)”. Amabile & cộng sự (1996) công bố “bộ công cụ KEYS để đánh giá các yếu tố môi trường tác động đến SST của NV trong tổ chức”. Theo đó, các yếu tố sự khuyến khích sáng tạo, sự tự do/ tự lập, các nguồn lực,, áp lực, sự cản trở của tổ chức đối với SST. Các yếu tố có tác động đến SST của NV trong tổ chức.
10 Woodman & cộng sự (1993) cho rằng “SST cá nhân là sự kết hợp giữa các nhân tố điều kiện, phong cách làm việc, khả năng, tính cách, động lực nội tại và kiến thức. Những yếu tố cá nhân chịu ảnh hưởng của nhân tố xã hội và bối cảnh”. “Các nghiên cứu phần lớn cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến SST, chẳng hạn như: Amabile (1983), Anderson và cộng sự (2014), Shalley và cộng sự (2004), và được phân thành ba nhóm chính là: “(1) Nhóm nhân tố cá nhân, (2) nhóm nhân tố công việc, và (3) nhóm nhân tố xã hội”. Tóm lại, có nhiều yếu tố thuộc về cấp độ cá nhân và tổ chức ảnh hưởng đến SST của NV.
Một số yếu tố đại diện có tác động chủ đến SST của NV có thể kể đến là: “(1) Yếu tố cá nhân: Tính cách, động lực nội tại, phong cách tư duy (cognitive style), kiến thức, phong cách làm việc, kỹ năng tư duy sáng tạo, sự tự chủ (Amabile, 1996, 1997, 1998, 2012; Woodman & cộng sự, 1993; Shalley & cộng sự, 2004); (2) Môi trường tổ chức: phong cách lãnh đạo, Sự hỗ trợ của tổ chức về sáng tạo, động lực bên ngoài, phần thưởng (reward), các nguồn lực, văn hóa tổ chức, sự phức tạp của công việc, sự tự do” (Shalley & cộng sự, 2004; Houghton & Diliello, 2009). Các lý thuyết nền tảng về nghiên cứu sự sáng tạo của nhân viên 2. Mô hình các thành phần của sự sáng tạo Mô hình các thành phần của SST được xây dựng bởi Amabile (1996) bao gồm: “Chuyên môn (expertise), các kỹ năng sáng tạo (creativity skills) và động lực trong công việc (task motivation)”. 11 “Chuyên môn “Kỹ năng sáng tạo (expertise) hoặc những (creativity skills) kỹ năng liên quan hoặc những quá (domain - relevant trình liên quan skills)” sáng tạo” Sáng tạo “Động lực trong công việc (task motivation)” Hình 2.
Mô hình các thành phần của SST Nguồn: Amabile (1996). Amabile, (1998) cho rằng “chuyên môn (hay gọi là kỹ năng liên quan) là những ghi nhớ kiến thức thực tế, trình độ kỹ thuật và tài năng đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó”. Amabile, (2012) kết luận “chuyên môn có thể hiểu đơn giản là gồm tất cả những gì một người biết và có thể làm việc hoặc giải quyết vấn đề trong một lĩnh vực nào đó. Nó bao gồm kiến thức, chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật, sự thông minh và tài năng trong lĩnh vực đó”.
Theo Amabile, (1996) “chuyên môn là nền tảng và đóng vai trò then chốt cho tất cả các hoạt động sáng tạo”. Theo Amabile (2012) thành phần này bao gồm: - Theo Amabile, (1996) “tự chủ trong công việc (self-efficacy hoặc job self- efficacy) là yếu tố nói về sự tự tin của một người về việc nắm vững kiến thức, kỹ năng của mình để tự mình áp dụng vào công việc”. Định nghĩa này gồm cả kinh nghiệm, kỹ năng và kiến thức. - Theo Amabile, (1996) “tài năng đặc biệt liên quan đến lĩnh vực làm việc: Kỹ năng sáng tạo (creativity skills – sau này được gọi là quy trình liên quan sáng 12 tạo – creativity-relevant processes) là kỹ năng tư duy sáng tạo”.