Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này cung cấp thông tin tổng quan về nghiên cứu bao gồm lý do thực hiện, mục tiêu, phạm vi, đối tượng cũng như phương pháp nghiên cứu và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung chính của chương này gồm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 sẽ mô tả phương pháp tiến hành nghiên cứu của tác giả trong đề tài này, cụ thể là phương pháp định tính và nghiên cứu định lượng. 7 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Nội dung của chương này là trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm phương pháp mô tả, kiểm tra độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết đã đề ra ở chương 2.
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và kiến nghị. Chương 5 sẽ tổng kết lại kết quả của nghiên cứu, những đóng góp, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. Chương này cũng đưa ra một số kiến nghị về vấn đề sáng tạo của nhân viên. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chương 2 trình bày các lý thuyết về sự sáng tạo và sự sáng tạo của nhân viên trong môi trường tổ chức, đồng thời các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo cũng được đề cập.
Chương này gồm các phần chính như sau: (1) Các lý thuyết về sự sáng tạo; (2) Khái niệm sự sáng tạo; (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên, và (4) Đề xuất mô hình nghiên cứu. Như đã trình bày ở phần trước, đối tượng của nghiên cứu này là sự sáng tạo của nhân viên và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức. Vì vậy, việc tìm hiểu các lý thuyết tiêu biểu về sự sáng tạo cũng như sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức là cần thiết để làm cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo. Các lý thuyết về sự sáng tạo 2.
Các xu hướng tiếp cận Trong lý thuyết về sự sáng tạo, có hai xu hướng tiếp cận chính được các nhà nghiên cứu áp dụng. Xu hướng tiếp cận truyền thống tập trung vào sự khác biệt về đặc điểm (characteristics) hay tiểu sử (biographies) của người sáng tạo, đại diện là nghiên cứu của Barron & Harrington (1981), MacKinnon (1962, 1965), Davis (1989) (trích theo Amabile, 1996; Olham & Cummings, 1996). Dựa trên một số hiểu biết, người ta cho rằng sự sáng tạo là do những người có phẩm chất sáng tạo làm ra. Các nghiên cứu theo xu hướng này trả lời các câu hỏi như: Những người sáng tạo là người như thế nào? Và họ khác biệt với hầu hết mọi người trên thế giới như thế nào? Mặc dù cách tiếp cận này đạt được một số thành công vì phát hiện được những lý thuyết nền, những phẩm chất cá nhân, những phong cách làm việc của một số người sáng tạo nổi bật, nhưng xu hướng này có sự hạn chế của nó.
Hạn chế thứ nhất là những nghiên cứu này đưa ra rất ít giải pháp thực tiễn giúp cho nhân 9 viên trở nên sáng tạo hơn trong công việc. Thứ hai, những nghiên cứu này đã bỏ qua vai trò của môi trường xã hội đối với sự sáng tạo và đổi mới (Amabile, 1996). Xu hướng tiếp cận mới, tiêu biểu là quan điểm của giáo sư Amabile thì cho rằng môi trường xã hội có thể ảnh hưởng đến mức độ cũng như tần suất của các hành vi sáng tạo (Amabile & cộng sự, 1996). Woodman & cộng sự (1993) thì cho đó là sự tương tác (interaction).
Hành vi sáng tạo trong tổ chức là một dạng phức tạp của sự tương tác giữa con người và hoàn cảnh, chịu ảnh hưởng của sự kiện quá khứ cũng như các yếu tố của tình huống hiện tại (Woodman & cộng sự, 1993). Những nghiên cứu của giáo sư Amabile cũng như các tác giả theo xu hướng này (Woodman & cộng sự, Shalley, Olham & Cummings) đã đưa ra nhiều giải pháp mang tính ứng dụng để tăng cường sự sáng tạo cũng như sự đổi mới của tổ chức. Quan điểm của Amabile Tác giả Teresa M. Amabile cùng các cộng sự của mình đã xây dựng một cơ sở lý thuyết về sự sáng tạo của con người trong tổ chức và mối liên hệ giữa sự sáng tạo và đổi mới.
Theo đó, sự sáng tạo là sản phẩm của cá nhân và sự đổi mới là việc ứng dụng sản phẩm đó ở cấp độ tổ chức. Sự sáng tạo chịu ảnh hưởng của cả các yếu tố cá nhân và môi trường. Trong nhiều bài viết của mình, Amabile trình bày các nội dung về khái niệm sự sáng tạo trong tổ chức, mối quan hệ giữa sự sáng tạo và sự đổi mới trong tổ chức cũng như các giải pháp để tăng cường sự sáng tạo trong tổ chức. Đây là lý thuyết được nhiều nhà nghiên cứu công nhận và sử dụng làm nền tảng trong các nghiên cứu khác.
Đóng góp quan trọng của Amabile thể hiện ở quan điểm về sự sáng tạo và sự đổi mới, cũng như thành phần và mối quan hệ qua lại giữa hai khái niệm đó. Mô hình nổi tiếng của Amabile là mô hình thành phần của sự sáng tạo (componential model of creativity – hình 2. Đồng thời, Amabile và các cộng sự đã xây dựng một bộ công cụ gọi là KEYS dùng để đánh giá các yếu tố thuộc về môi trường ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên. 10 Vì là người theo quan điểm tiếp cận mới, cho nên lý thuyết của Amabile tập trung vào sự sáng tạo trong môi trường tổ chức.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức ở cấp độ cá nhân được Amabile đề cập có thể kể đến như động lực nội tại, kiến thức, cách nhận thức, kỹ năng tư duy sáng tạo, phong cách làm việc. Các nhóm yếu tố thuộc cấp độ tổ chức cũng được đề cập như nguồn lực, các hoạt động quản lý, động lực của tổ chức. Quan điểm của Woodman & cộng sự Woodman & cộng sự (1993) đã công bố một nghiên cứu về sự sáng tạo của nhân viên trong tổ chức. Theo đó, nghiên cứu này phát triển một cơ sở lý thuyết để hiểu sự sáng tạo trong môi trường xã hội phức tạp.
Lý thuyết của Woodman & cộng sự theo xu hướng “tương tác” – interaction, tức là có sự ảnh hưởng qua lại giữa sự sáng tạo và các yếu tố môi trường hay sự tương tác giữa các cá nhân với nhau. Woodman & cộng sự nổi tiếng với mô hình tương tác của sự sáng tạo trong tổ chức (interactionist model). Theo mô hình này, ông nhấn mạnh sự tác động và tương tác của các yếu tố đến cá nhân, nhóm và tổ chức dẫn đến đầu ra của sự sáng tạo (creativity outcome). Nhóm tác giả đã trình bày các vấn đề về sự sáng tạo ở các cấp độ khác nhau như cá nhân (individual creativity), nhóm (group creativity) và tổ chức (organizational creativity).
Đóng góp của Woodman & cộng sự là đã phân tích sự sáng tạo thành các cấp độ khác nhau, từ đó phân tích sự tương tác giữa các cấp độ cũng như các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến mỗi cấp độ. Quan điểm về sự đổi mới có khác biệt so với Amabile khi cho rằng không phải mọi sự đổi mới đều xuất phát từ sự sáng tạo bên trong tổ chức, mà có thể tiếp thu từ bên ngoài. Khái niệm về sự sáng tạo 2. Sự sáng tạo Có thể nói sự sáng tạo (creativity) là một khái niệm khó định nghĩa, các nhà nghiên cứu không đồng ý hoàn toàn với một khái niệm nào (DiLiello & Houghton, 2006).
Vì vậy nó được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. 11 Theo Amabile (1996) thì sự sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng mới và hữu ích trong một lĩnh vực nào đó. Các lĩnh vực ở đây là những hoạt động của con người từ khoa học, nghệ thuật, kinh doanh cho đến những hoạt động thường ngày (Amabile, 1997). Để được xem là sáng tạo, sản phẩm hoặc ý tưởng phải khác biệt so với những cái đã có trước đó.
Ý tưởng sáng tạo không nhất thiết phải mới hoàn toàn, nó phải phù hợp với mục tiêu và có giá trị. Cũng theo Amabile (1996) bởi vì có nhiều quan niệm sai lầm về sự sáng tạo, cho nên điều quan trọng là nhận ra sự sáng tạo không phải là: - Tính cách. Việc nhìn nhận sự sáng tạo như là một hành vi và là kết quả của một quá trình hay một ý tưởng thì tốt hơn là xem sự sáng tạo như là một tính cách. Sự sáng tạo là hành vi tạo ra cái mới và thích hợp trong bất kỳ lĩnh vực nào – từ quản trị kinh doanh cho đến khoa học khám phá và nhiều lĩnh vực khác.
- Sự thông minh. Một điều chắc chắn rằng thông minh đóng góp vào sự sáng tạo. Nhưng thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo hơn là sự thông minh. - Điều tốt đẹp.
Những hành vi mang tính mới và phù hợp với mục tiêu có thể được áp dụng vào những việc xấu cũng như những việc tốt. Woodman & cộng sự (1993) định nghĩa sự sáng tạo là việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, thủ tục hay quá trình mới, hữu ích và có giá trị. Ở đây, Woodman & cộng sự nhấn mạnh đến ba tính chất đó là mới, có ích và có giá trị trong khi Amabile chỉ nhắc đến sự mới mẻ và có ích. Tuy nhiên, việc có ích cũng ngầm liên quan đến giá trị mà sự sáng tạo có thể đem lại.
Olham & Cummings (1996) định nghĩa: một sản phẩm, ý tưởng hay tiến trình có sáng tạo phải thỏa mãn hai điều kiện: (1) Nó là mới mẻ và độc đáo; (2) Nó có 12 liên quan và có ích cho một tổ chức nào đó. Một sản phẩm, ý tưởng hoặc tiến trình là mới nếu nó liên quan đến việc tái tổ hợp quan trọng các vật chất sẵn có hoặc giới thiệu vật chất hoàn toàn mới. Hoạt động sáng tạo liên quan đến sản phẩm, ý tưởng được tạo ra ở cấp độ cá nhân. Kreitner & Kinicki (2004) trong sách về hành vi tổ chức cho rằng sự sáng tạo được định nghĩa là quá trình sử dụng trí tưởng tượng và kỹ năng để phát triển một ý tưởng, sản phẩm, đối tượng, hoặc quá trình mới hoặc độc đáo.