Chương 1: Tổng quan gồm những nội dung: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu gồm các nội dung: Cơ sở lý thuyết, các yếu thỏa mãn trong công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán, giới thiệu mô hình nghiên cứu và thang đo được sử dụng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, gồm những nội dung: Trình bày quy trình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu định tính nhằm xây dựng và hiệu chỉnh thang đo, thông tin mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, gồm những nội dung: Trình bày phương pháp thông tin và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Thảo luận kết quả và hàm ý, gồm những nội dung: Tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, một số hàm ý của kết quả nghiên cứu, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày các vấn đề về lý thuyết và những nghiên cứu liên quan trước đây làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển thành các giả thuyết nghiên cứu. Chương này gồm hai phần chính: Phần đầu trình bày các thành phần của thỏa mãn công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán và thang đo được sử dụng, phần tiếp theo sẽ xây dựng mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần của thỏa mãn công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán. Các thành phần của thỏa mãn công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán: 2.
Các thành phần của thỏa mãn công việc: Một giả định phổ biến rằng nếu nhân viên hạnh phúc trong công việc họ sẽ có năng suất cao hơn trong công việc (Spector, 1997). Sự thỏa mãn trong công việc đã đóng một vai trò chính trong các nghiên cứu quản lý, cụ thể là về mối quan hệ sự thỏa mãn trong công việc và hiệu quả công việc (Petty và cộng sự, 1984; Fisher, 2003). Mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ (Smith P. * Các thành phần thỏa mãn trong công việc theo một số nghiên cứu trước đây như sau: Nghiên cứu của Schemerhon (1993) đã đưa ra 8 yếu tố ảnh hưởng sự thỏa mãn của nhân viên bao gồm: (1) Vị trí công việc, (2) Sự giám sát của cấp trên, (3) Mối quan hệ với đồng nghiệp, (4) Nội dung công việc, (5) Sự đãi ngộ, (6) Thăng tiến, (7) Điều kiện vật chất của môi trường làm việc, (8) Cơ cấu tổ chức.
Nghiên cứu của Spector (1997) đưa ra 9 yếu tố tác động sự hài lòng của nhân viên trong các doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực dịch vụ bao gồm: (1) Lương, (2) 6 Cơ hội thăng tiến, (3) Điều kiện làm việc, (4) Sự giám sát, (5) Đồng nghiệp, (6) Yêu thích công việc, (7) Giao tiếp thông tin, (8) Phần thưởng bất ngờ, (9) Phúc lợi. Nghiên cứu của Smith et al (1969) đã sử dụng thang đo Chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) để đo sự thỏa mãn trong công việc. Giá trị và độ tin cậy của JDI được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Price Mayer & Schoorman 1992;1997), thang đo bao gồm 5 yếu tố: (1) Bản chất công việc, (2) Cơ hội đào tạo và thăng tiến, (3) Lãnh đạo,(4) Đồng nghiệp, (5) Tiền lương. Sau này, Crossman và Bassem (2003) bổ sung thêm hai thành phần Phúc lợi và Môi trường làm việc.
Thang đo này đã được nhiều tác giả Việt Nam sử dụng trong các nghiên cứu như: Trần Kim Dung (2005) trong đề tài "Nhu cầu, sự thỏa mãn của nhân viên và mức độ gắn kết với tổ chức"; Nguyễn Duy Cường (2009) với đề tài "Đo lường mức độ thỏa mãn với công việc và kết quả thực hiện công việc của nhân viên công ty International SOS Việt Nam"; Đoàn Thị Phương Hòa (2013) với đề tài “Đo lường mức độ thỏa mãn trong công việc của nhân viên văn phòng khối doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”. Trong nghiên cứu sơ bộ, tác giả đưa ra thảo luận các thành phần thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán và gợi ý dựa vào các thành phần thỏa mãn trong công việc của các nghiên cứu của các tác giả trên. Kết quả sau khi thảo luận các chuyên gia thống nhất sử dụng 5 thành phần thỏa mãn trong công việc (Bản chất công việc, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Tiền lương) trong thang đo Chỉ số mô tả công việc JDI của Smith et al. (1969) và 2 thành phần theo Crossman và Bassem (2003) (Phúc lợi và Môi trường làm việc) để xem xét sự tác động của chúng đến hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Các thang đo này được sử dụng vì tính khái quát hóa của nó và phù hợp đối với đối tượng là nhân viên kế toán. * Bản chất công việc: Bản chất công việc liên quan đến những thách thức trong công việc, sự thú vị và công việc có giúp nhân viên vận dụng tốt các năng lực cá nhân hay không. 7 Những khía cạnh công việc như sự đa dạng, trách nhiệm, nhiệm vụ khó khăn và quyền tự chủ được nhận ra là có tác động vào mối quan hệ của sự thỏa mãn công việc và hiệu quả công việc (Lockee,1976). Kết quả nghiên cứu của Hackman và Lawler (1971) đã phản hồi rằng đó là yếu tố quan trọng tác động vào mối quan hệ của sự thỏa mãn công việc và hiệu quả công việc.
Khi một nhân viên nhận thấy môi trường làm việc và những nhiệm vụ mà công việc của anh ấy/cô ấy có thể mang đến sự thích thú, nhân viên đó sẽ thỏa mãn nhiều hơn và có xu hướng thực hiện công việc tốt hơn (Lawler và Porter, 1967). Lý do cơ bản giải thích vì sao bản chất công việc tác động lên sự thỏa mãn công việc và hiệu quả làm việc là những khía cạnh thuận lợi của công việc được gia tăng dẫn đến sự thỏa mãn nhiều hơn và dẫn đến ước muốn làm việc hiệu quả hơn (Hacman và Oldam, 1976) Theo Hackman và Oldham (1976) mô hình đặc điểm công việc (Job characteristics model) quy định rằng cách mà công việc được cảm nhận giới hạn bởi 5 đặc tính công việc cơ bản (kỹ năng đa dạng, nhận biết nhiệm vụ, vai trò quan trọng, tự chủ, và phản hồi) có xu hướng ảnh hưởng 3 trạng thái tâm lý đặc biệt của nhân viên bao gồm: cảm nhận ý nghĩa của việc làm, cảm thấy trách nhiệm và hiểu về kết quả công việc (tức là mức độ nhận thức được kết quả công việc của mình) Công việc kế toán là công việc có trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng. Công việc này thường phù hợp với những người yêu thích môn toán và có khả năng phân tích số liệu vì họ làm việc trực tiếp với các con số. Kế toán viên cũng cần những đức tính trung thực, cẩn thận, có trách nhiệm vì họ là người trực tiếp ghi chép số tiền của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thông qua các chứng từ, sổ sách và lập các báo cáo không những có giá trị nội bộ mà còn có giá trị pháp luật.
Sau khi thảo luận nhóm và tham khảo ý kiến chuyên gia khi nghiên cứu sơ bộ, yếu tố Bản chất công việc của nhân viên kế toán được đo lường bằng 4 biến quan sát: - Công việc kế toán cho phép các Anh/Chị sử dụng tốt các năng lực cá nhân - Anh/Chị cảm thấy công việc kế toán rất thú vị - Công việc kế toán có nhiều thách thức 8 - Công việc kế toán có quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, phù hợp * Tiền lương: Các nhà nghiên cứu về thỏa mãn trong công việc và thỏa mãn về lương thường giả định rằng thỏa mãn về lương và cảm nhận trả lương công bằng là tương đồng, như việc xem xét thang đo sự thỏa mãn về lương cho thấy rằng thang đo này bao gồm việc đo lương công bằng (Smith et al., 1969; Motowidlo, 1982) Thuyết công bằng (Adams, 1965) dựa trên lý thuyết so sánh xã hội (Festinger, 1954) và nghiên cứu cho thấy nhận thức về sự công bằng thường dựa trên sự so sánh xã hội (Austin et al. Nhân viên thường đánh giá sự công bằng dựa trên việc so sánh với những người khác, có thể là đồng nghiệp, hoặc dựa trên sự tương đồng khác, chẳng hạn như tình trạng của tổ chức (Greenberg et al. Vấn đề là nhận thức của cá nhân về sự bất bình đẳng trong tiền lương có thể có một tác động bất lợi vào động cơ làm việc và hiệu quả công việc của nhân viên (Cowherd và Levine, 1992; Ryan và Deci, 2000; Merchant et al. Sau khi thảo luận nhóm và tham khảo ý kiến chuyên gia khi nghiên cứu sơ bộ, yếu tố tiền lương được đo lường bằng 4 biến quan sát: - Anh/Chị dược trả lương cao - Anh/Chị có thể sống hoàn toàn dựa vào thu nhập của công ty - Tiền lương tương xứng với kết quả làm việc - Tiền lương được trả công bằng giữa các nhân viên kế toán và công bằng so với bộ phận khác * Khen thưởng, phúc lợi: Khen thưởng có nhiều hình thức, có thể khen thưởng bằng tiền tệ hoặc phi tiền tệ, khen thưởng giúp nâng cao tinh thần làm việc của nhân viên, động viên nhân viên để họ phấn đấu làm việc hiệu quả hơn nhằm đạt được một mục tiêu nào đó của tổ chức.
Rất nhiều hệ thống khen thưởng thực hiện trong các tổ chức, thường được sử dụng như một công cụ quản lý mà nó có thể đóng góp vào hiệu quả công ty bằng cách tác động vào hành vi cá nhân và hành vi nhóm (Lawler và Cohen, 1992). Chính sách khen thưởng công nhận những đóng góp của nhân viên đối với tổ chức. 9 Bên cạnh đó, chương trình phúc lợi cũng rất quan trọng.