chương 1, tác giả đã trình bày được bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước và đưa ra các các lý do lựa chọn phân tích “Các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK của NHTMCP Việt Nam”. Nghiên cứu này sử dữ liệu thứ cấp. Cuối cùng, trong chương này tác giả đã đề ra bố cục chung của toàn bài và nội dung trọng tâm sẽ được thảo luận tại mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Tiếp theo, lược khảo các nghiên cứu trước được công bố ở nước ngoài và tại Việt Nam trong quá khứ sẽ được tổng hợp tại đây.
Tìm ra khoảng trống của từ lược khảo đã được tổng hợp. Cuối cùng, xem xét mối tương quan giữa những nhân tố với RRTK làm cơ sở để hình thành mô hình của khóa luận. THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo Trương Quang Thông (2013) thanh khoản là thời gian luân chuyển từ tài sản mà ngân hàng đang có thành tiền mặt nhanh nhất với chi phí hợp lý nhất đối với ngân hàng.
Có thể xem xét 2 khía cạnh là tài sản và nguồn vốn thì thanh khoản là khả năng sử dụng các tài sản và nguồn vốn mà ngân hàng chỉ phải bỏ ra chi phí hợp lý phù hợp với ngân hàng để hoàn thành các việc kinh doanh của ngân hàng. Để được xem là tài sản có tính thanh khoản cao thì phải có chi phí hoán đổi thành tiền mặt thấp và với thời gian nhanh nhất. Còn nguồn vốn có thanh khoản cao thì chi phí huy động phải thấp và khoảng thời gian huy động ngắn. Theo Basel (2008) giải thích thanh khoản là việc hoàn thành tốt các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, mà không tạo nên thiệt hại vượt quá quy định trong lúc ngân hàng kinh doanh để gia tăng thêm tài sản.
Theo Duttweiler (2009) cho rằng thanh khoản là việc chuyển đổi tài sản cụ thể thành tiền mặt được diễn ra một cách thuận lợi và trong lúc ngân hàng thực hiện biến đổi tài sản thành tiền mặt thì thị trường vẫn đáp ứng các giao dịch đó. Vì vậy, có thể hiểu rằng thanh khoản là sự chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với thời gian nhanh nhất, chi phí hợp lý và các giao dịch chuyển đổi đều được thị trường chấp thuận. Khái niệm về rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo Gup và Kolari (2005) kết luận rằng “RRTK là khi các ngân hàng không đảm bảo được lượng tiền sẵn có hoặc các tài sản tương đương tiền để giải quyết các vấn đề thanh toán của ngân hàng kịp thời và ngân hàng gặp khó khăn khi chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trong thời gian ngắn để giải quyết các vấn đề thanh khoản mà ngân hàng đang gặp phải”. Theo Nguyễn Thành Đạt (2019) cho rằng “RRTK chỉ xuất hiện khi ngân hàng lâm vào tình trạng không đảm bảo được khả năng thanh khoản, khả năng thanh toán khi ngân hàng không chuyển đổi được các tài sản tạo ra tiền tức thời để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khi các hợp động này đến hạn”.
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản hơn là RRTK là rủi ro do hoán đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh nhất, với mức giá phù hợp nhất gặp bất lợi (Muranaga và Ohsawa, 2002). Qua các nghiên cứu trên, RRTK là khi ngân hàng không hoàn thành được các nghĩa vụ tài chính đúng hạn hoặc không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Cần thời gian để huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài, chuyển đổi tài sản hiện có thành tiền mặt đang gặp bất lợi. Việc một ngân hàng gặp RRTK ngoài việc ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của ngân hàng đó mà mang đến hệ lụy cả hệ thống.ngân hàng và nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực theo.
PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG RỦI RO THANH KHOẢN 2. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa trên khe hở tài trợ Việc sử dụng FGAP để đo lường RRTK đã được (Cornett và ctg 2006) áp dụng. Và sau đó thì các nghiên cứu của (Arif và Nauman Anees 2012); (Chen và cộng sự., 2009) đã kế thừa sử dụng FGAP để đo lường RRTK. Theo Vodova (2013) cho rằng, khe hở tài trợ là sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn trong hiện tại và tương lai của ngân hàng.
Còn theo Chen và cộng sự (2009) cho rằng, sử dụng FGAP để đo lường RRTK của ngân hàng, thì việc thu thập và tính toán các số liệu dựa trên các BCTC của ngân hàng, điều 10 này cho thấy cái nhìn tổng quát nhất về RRTK của ngân hàng có thể xảy ra trong tương lai. Ngoài các nghiên cứu của nước ngoài đã kế thừa phương pháp này, thì các tác giả trong nước ta đã kế thừa phương pháp sử dụng FGAP để đo lường RRTK của những tác giả như Trương Quang Thông (2013); Đặng văn Dân (2015); Nguyễn Thành Đạt (2019). Và Theo Nguyễn Thành Đạt (2019) cho rằng “khe hở tài trợ là sự chênh lệch giữa số dư bình quân của các khoản cho vay và số dư bình quân vốn huy động”.1) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Nếu FGAP lớn hơn 0 thì các tài sản của ngân hàng như lượng dự trữ tiền mặt và tài sản phải được giảm bớt đi hoặc đi vay bổ sung. Nhưng việc ngân hàng đi vay trên thị trường tiền tệ sẽ làm tăng cao RRTK.
Nếu FGAP nhỏ hơn 0 thì cho thấy rằng ngân hàng đang thừa vốn, ngân hàng nên xem xét mua vào thêm các tài sản có tính thanh khoản cao và dùng chúng để cho vay. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa trên các chỉ số thanh khoản Theo Aspachs, Nier và Tiesset (2005); Vodová (2011) đã nghiên cứu bằng cách đo lường dựa trên các chỉ số thanh khoản. Các nghiên cứu tập trung vào các chỉ số thanh khoản mà đặc biệt nghiên cứu về 4 chỉ số sau: Tài sản thanh khoản 𝐿1 = × 100(%) (2.2) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Chỉ số L1 cho thấy tài sản thanh khoản.chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng tài sản mà ngân hàng có được, chỉ số nhà giúp các nhà phân tích ngân hàng có thanh khoản tốt hay không tốt. Việc chỉ số này cao chứng minh khả năng thanh.khoản của ngân hàng tốt, nhưng việc này phản ánh ngân hàng đang nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao điều này sẽ tạo nên sự không sinh lợi cho ngân hàng.
Tài sản thanh khoản 𝐿2 = × 100(%) (2.3) 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑉ố𝑛 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 11 Chỉ số L2 này phản ánh sự nhạy cảm của ngân hàng đối với các khoản tiền gửi của khách hàng gửi vào ngân hàng. Và cho thấy khả năng đảm bảo các nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng khi đối mặt với các trường hợp khách hàng tất toán tiền gửi trước hạn. Chỉ số này càng cao cho thấy ngân hàng có tính thanh.khoản càng tốt. Tổng cho vay 𝐿3 = × 100(%) (2.4) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Chỉ số L3 cho thấy việc cho vay chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng tài sản mà ngân hàng có được, chỉ số này có thể giải thích được ngân hàng có nguy cơ bị mất RRTK hay không.
Khi chỉ số này cao thì thể hiện việc cho vay quá nhiều của ngân hàng, nếu kinh tế biến động xấu, các khoản vay không thu hồi được thì sẽ làm tăng RRTK của ngân hàng khiến ngân hàng không có đủ tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tổng cho vay 𝐿4 = × 100(%) (2.5) 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑉ố𝑛 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Chỉ số L4 cho thấy việc cho vay của ngân hàng có lớn hơn lượng tiền mà ngân hàng huy động được. Nếu L4 cao thể hiện rằng ngân hàng đã sử dụng toàn bộ các lượng tiền dự trữ ngắn hạn để cho vay các khoản vay dài hạn. Chỉ số L4 càng cao thì phản ánh RRTK mà ngân hàng gặp phải càng lớn.
LÝ THUYẾT LIÊN QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2. Lý thuyết khả năng thay đổi Lý thuyết khả năng.thay đổi (The Shiftability theory) của (Moulton 1918) kết luận rằng việc các ngân hàng nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao trong cơ cấu tài sản của ngân hàng sẽ giúp các ngân hàng có thể ngăn ngừa RRTK. Cùng với đó tác giả cho rằng việc cho vay để tăng thu nhập sẽ làm cho ngân hàng không bảo đảm được thanh khoản, làm gia tăng RRTK của ngân hàng, việc bảo đảm thanh khoản phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận và khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng. Lý thuyết tín hiệu Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) do (Spence 1973) cho rằng ngân hàng có quy.mô lớn sẽ có tín hiệu tốt cho công việc huy động, giúp ngân hàng có thể tiếp cận được những nguồn tiền khác nhau ngoài thị trường và làm giảm RRTK mà ngân hàng gặp phải.
Tuy vậy, theo lý thuyết quá lớn.để đổ vỡ (The big too fail.theory) do (Greg 2009) chỉ ra rằng ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ phải chấp nhận việc đầu tư vào các tài sản có độ rủi ro cao với mục đích tăng trưởng lợi nhuận cho ngân hàng.làm tăng RRTK của ngân hàng. Vì vậy, quy mô của ngân hàng và RRTK có ảnh hưởng cùng chiều hoặc ngược chiều với nhau. Theo Nguyễn Thị Bích Thuận và Phạm Ánh Tuyết (2021) nghiên cứu “các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK tại 25 NHTM tại Việt Nam” có kết quả rằng quy mô ngân hàng có ảnh hưởng ngược chiều với RRTK. Nghiên cứu đã cho ra kết quả giống với lý thuyết quá lớn để.
Lý thuyết ưa thích thanh khoản Lý thuyết ưa thích thanh khoản (Keynes Liquidity Preference Theory) cho rằng tiền mặt là loại tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh, ngân hàng dự trữ lượng tiền mặt lớn sẽ làm cho RRTK được giữ ở mức ổn định nhưng lại làm cho lợi nhuận của. ngân hàng sụt giảm. Nếu ngân hàng muốn có lợi nhuận cao thì phải tập trung vào các khoản đầu tư có khả năng thanh khoản ít hơn, rủi ro lớn hơn. Vì thế, theo Berger (1995) đã nghiên cứu về các.nhuận thấp sẽ tập trung nhiều vào các tài sản có tính thanh khoản thấp có rủi ro cao với mục tiêu là nâng cao lợi nhuận của ngân hàng.
Từ đó, tài sản.có tính thanh khoản cao ngân hàng đang có sẽ giảm xuống dẫn đến RRTK của ngân hàng tăng cao. Theo Bunda và Desquilbet (2008) cho rằng các ngân hàng đang kinh doanh có hiệu quả sẽ quan tâm việc duy trì sự an toàn, kiểm soát sự tăng tài sản.thanh khoản thông qua việc gia tăng hoạt động tín dụng. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các nghiên cứu ngước ngoài Chen và cộng sự (2009) sử dụng 14,360 mẫu quan.