CHƯƠNG 1 Đặt ra vấn đề và lý do lựa chọn thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”. Đồng thời khái quát toàn bộ đề tài được thực hiện bao gồm các nội dung như mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu cùng với đóng góp mà nghiên cứu mang lại về mặt thực tiễn lẫn lý luận. LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 2. Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2.
Thanh khoản Khái niệm thanh khoản có thể được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau trong các lĩnh vực của ngành kinh tế. Dưới góc nhìn tài sản, có thể hiểu tính thanh khoản của một tài sản là khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản theo thời gian với chi phí thấp nhất. Một tài sản thanh khoản có ba đặc điểm gồm luôn có thị trường giao dịch mà để chuyển đổi thành tiền mà không bị trì hoãn; có mức giá ổn định và hợp lý cho dù tài sản đó cần bán gấp hay bán ra với số lượng lớn và người bán có thể thu hồi lại giá khi mua ban đầu với rủi ro thua lỗ thấp (Peter S. Dưới góc độ hoạt động kinh doanh của NHTM thì thanh khoản là khả năng mà NHTM đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như cho vay, chi trả tiền gửi, thanh toán các khoản nợ đến hạn và các hoạt động giao dịch tài chính khác.
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) phát biểu rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn. Theo Duttweiler (2009) thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo là hai loại thanh khoản cần chú ý. Cụ thể thì bài nghiên cứu đưa ra định nghĩa rằng “thanh khoản tự nhiên là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định” (Duttweiler, 2009). Trong lĩnh vực ngân hàng, các giao dịch với khách hàng thường được tái tục với cùng số tiền hoặc một lượng tiền ít hoặc nhỏ hơn.
Nhưng 8 đa phần thì dự đoán về số tiền khi tái tục có thể dự đoán được dựa vào việc trao đổi với khách hàng, quan sát tình hình sản xuất kinh doanh hoặc dòng tiền của khách hàng. Và dự đoán này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ. Còn thanh khoản nhân tạo được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn. Hầu như lúc nào người nắm giữ một loại chứng khoán cũng có thể dễ dàng chuyển chúng thành tiền mặt, đặc biệt là nếu vẫn có công ty muốn chuyển chứng khoán thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận giao dịch.
Các nguồn cung và cầu thanh khoản Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng và được huy động từ các nguồn như: tiền gửi khách hàng, khách hàng hoàn trả tín dụng, vay mượn trên thị trường tiền tệ (thị trường liên ngân hàng), thu nhập từ việc bán hoặc thanh lý tài sản, doanh thu cung cấp dịch vụ, phát hành cổ phiếu. Cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở các thời điểm khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như: nhu cầu rút tiền và vay vốn từ khách hàng, hoàn trả các khoản vay mượn đến hạn, chi phí cung ứng dịch vụ, chi phí lãi vay, thanh toán cổ tức cho cổ đông, mua lại cổ phiếu. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro thuộc lĩnh vực tài chính mà biểu hiện đặc trưng là tại các ngân hàng thương mại. Bản chất của ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh mang tính đặc trưng như kinh doanh có điều kiện (về vốn pháp định, bộ máy tổ chức, phạm vi nghiệp vụ.), đối tượng kinh doanh là các tài sản tài chính và tiền tệ, mang tính chất trung gian (mệnh giá, kỳ hạn, lãi suất, thanh khoản), chịu sự chi phối mạnh của môi trường, là hoạt động kinh doanh đặc biệt và có hệ thống rủi ro cao.
Loại rủi ro này xuất phát từ chính tính chất trung gian về tài chính hay trung gian thanh khoản. Khi một ngân hàng không đủ tiền để đáp ứng cho các nhu cầu rút tiền của khách hàng gửi/vay tiền, nhu cầu thanh toán các 9 khoản nợ trên thị trường liên ngân hàng thì ngân hàng được xem gặp vấn đề về thanh khoản gọi tắt là rủi ro thanh khoản. Đối với Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) thì “rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoặc nghĩa vụ nợ với chi phí thấp nhất”. Bên cạnh đó, Ủy ban Basel cũng bổ sung “rủi ro thanh khoản xuất phát từ việc ngân hàng không có khả năng gia tăng các khoản mục nguồn vốn để tài trợ cho việc gia tăng tài sản ngân hàng.
Dưới góc độ quản trị thanh khoản ngân hàng, thặng dư hay thiếu hụt đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng”. Dutteweiler cũng đã phát biểu thêm trong nghiên cứu của mình rằng “rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn” (Duttweiler, 2009). Tác giả nhận định rằng rủi ro thanh khoản của NHTM là loại rủi ro khi NHTM không có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời hoặc cung ứng nhu cầu thanh toán với chi phí cao. Vậy tóm lại, có thể hiểu đơn giản rằng thanh khoản là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán và rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi mà NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán với chi phí cao.
Đo lường khả năng thanh khoản 2. LDR (Loan to Deposit)-Dư nợ cho vay khách hàng/Tổng huy huy động vốn Chỉ số LDR (Loan to Deposit) là tỷ lệ cấp dư nợ tín dụng trên vốn huy động. LDR là một chỉ số cơ bản nhất thể hiện khả năng thanh khoản, đặc biệt là thanh khoản kỳ hạn của ngân hàng. Dư nợ cho vay khách hàng LDR = (2.1) Tổng vốn huy động 10 Công thức tính LDR gồm hai thành phần với tử số là tổng dư nợ cho vay (tín dụng) và mẫu số là tổng tiền gửi/tổng huy động vốn.
Thông thường, tín dụng được coi là được coi là tài sản kém linh hoạt nhất trong số các tài sản sinh lời của ngân hàng. Do đó, nếu tỷ lệ LDR tăng thì tính thanh khoản của ngân hàng giảm đi tương ứng tức là LDR lên quá cao thì khả năng tự bảo vệ khỏi nguy cơ bị rút tiền gửi đột ngột kém đi. Ngược lại, nếu như tỷ lệ cấp dư nợ tín dụng trên vốn huy động này thấp thì khả năng thanh khoản của ngân hàng có chiều hướng tốt lên, có thể thoải mái tăng trưởng quy mô về vốn hay các khoản tín dụng, dễ dàng đưa ra quyết định đầu tư và cho vay hơn cũng như không khó để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi cùng lúc của nhiều khách hàng hơn. Với tầm quan trọng đó, Thông tư số 22 (2019) của NHNN yêu cầu mức LDR tối đa của các ngân hàng thương mại là 85%.
Tức là nếu ngân hàng huy động được 100 đồng thì chỉ được cho vay 85 đồng và dùng 15 đồng còn lại để dự trữ, làm khoản thanh khoản. Trên thực tế, các ngân hàng thường dùng 15 đồng này để mua tài sản thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc. Trong trường hợp xấu nhất, các ngân hàng có thể lấy khoản dự trữ bán ra, hoặc cũng có thể chiết khấu với NHNN trên thị trường mở (OMO) để lấy tiền trả các nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Theo nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ông Lê Xuân Nghĩa, ở các nước khác chỉ số LDR không được coi trọng vì ngân hàng huy động vào chỉ cho vay một tỷ lệ nhất định và phần còn lại được đầu tư trên thị trường vốn, mua bán trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá khác.
Trái lại, họ xem trọng chỉ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) lại quan trọng hơn. Còn ở Việt Nam, LDR được xem là một chỉ số quan trọng trong việc xem xét khả năng thanh khoản vì nhiều năm liền, cấp tín dụng dễ dãi, tín dụng tăng trưởng quá nóng. Thêm vào đó, ông Nghĩa cũng phát biểu thêm rằng cho vay sân sau, cho vay đảo nợ, cho vay nợ xấu, không thu hồi được nợ cũ mà huy động thêm cho vay mới. Trên thực tế, trước năm 2011, có gần 10 ngân hàng trong diện tái cơ cấu bắt buộc do bị mất thanh khoản, trong đối thanh khoản kỳ hạn mà đến nay, hậu quả vẫn chưa được giải quyết triệt để.
11 Từ thực tế này, cùng với quy trình triển khai quyết định của Thủ tướng tái cơ cấu toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng qua hai giai đoạn, năm 2014, NHNN văn bản hóa chỉ số LDR bằng Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014. Vậy, nếu chỉ số LDR càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao và ngược lại, nếu chỉ số này giảm đi thì ngân hàng đang gặp vấn đề về thanh khoản. Và theo quy định của Thông tư của NHNN thì 85% là mức tối đa cho chỉ số này đối với các ngân hàng đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Tỷ số nợ trên tổng tài sản (DR–Debt ratio) - Dư nợ cho vay/ tổng tài sản có Tỷ số đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ trên tổng tài sản (DR – Debt ratio) là một tỷ số tài chính được sử dụng để đo lường năng lực và quản lý nợ dựa trên tổng tài sản mà ngân hàng sở hữu.
Hệ số nợ cho biết phần trăm tổng tài sản của công ty được tài trợ bằng các khoản nợ là bao nhiêu. Hệ số nợ thấp có thể cho thấy việc sử dụng nợ không hiệu quả, còn hệ số nợ cao thể hiện gánh nặng lớn về nợ, có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán hay xảy ra rủi ro về thanh khoản.