chương 1, tác giả đã đặt ra mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu về tác động của Đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định của các ngân hàng Việt Nam. Dựa trên đó, tác giả cũng đã xác định câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và cả phạm vi nghiên cứu. Đề tài này được hoàn thành cũng sẽ có lợi cho các ngân hàng, nhà đầu tư và các cơ quan chức năng trong việc ổn định hệ thống ngân hàng, đồng thời đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm vào các tài liệu nghiên cứu hiện có, nhất là tại Việt Nam. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC CHO VAY Trong lĩnh vực ngân hàng, đa dạng hóa đóng vai trò quan trọng vì chiến lược đa dạng hóa thường được coi là một cách để giảm rủi ro cho các ngân hàng. Các NHTM có thể thực hiện đa dạng hóa theo nhiều cách khác nhau, bao gồm đa dạng hóa doanh thu (thu nhập ngoài lãi), đa dạng hóa địa lý, đa dạng hóa nguồn tài trợ, đa dạng hóa tài sản, đa dạng hóa danh mục cho vay (Yang và cộng sự, 2020). Mỗi phương thức đa dạng hóa như vậy có những tác động khác nhau đến cả rủi ro và khả năng sinh lời của ngân hàng (Acharya và cộng sự, 2006). Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung vào đa dạng hóa danh mục cho vay.
Đa dạng hóa danh mục cho vay được hiểu là sự phân bổ các khoản vay theo các ngành kinh tế khác nhau (Hayden và cộng sự, 2007). Đa dạng hóa danh mục cho vay được thực hiện bằng cách cung cấp các khoản vay vào các lĩnh vực khác nhau mà không tập trung vào một lĩnh vực cụ thể (Jahn và cộng sự, 2016). Các ngân hàng có thể phân bổ các khoản vay trên nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, sản xuất, dịch vụ, bất động sản, công nghệ, … Sự phân bổ vào càng nhiều các lĩnh vực thì cho thấy ngân hàng có xu hướng đa dạng hóa càng lớn (Al-kayed & Aliani, 2020). Chiến lược tập trung có mối quan hệ ngược chiều với đa dạng hóa danh mục cho vay, là sự tập trung cho vay vào các lĩnh vực cụ thể mà ngân hàng có kiến thức và khả năng giám sát vượt trội (Atahau, 2017).
Ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cho vay càng cao thì mức độ tập trung càng thấp, và ngược lại, mức độ đa dạng hóa càng thấp ám chỉ ngân hàng có mức độ tập trung cao. Chandramohan & cộng sự (2022) đã lý giải tại sao các nghiên cứu trước đây thường ít xem xét về đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng bởi hai lý do. Đầu tiên, dữ liệu 9 của ngân hàng về danh mục cho vay được phân chia không được phổ biến rộng rãi. Thứ hai, có rất ít sự đồng nhất trong dữ liệu được báo cáo bởi các quốc gia khác nhau.
Việc thiếu các bộ dữ liệu có thể so sánh này cản trở các nghiên cứu. Đề tài này sẽ đóng góp vào tài liệu hiện có thêm bằng chứng thực nghiệm về đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng. Phân loại danh mục cho vay được đề cập đến trong giáo trình của Saunders & Allen (2002), Smithson (2002), Bùi Diệu Anh (2016) như sau: - Danh mục cho vay theo thời hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn - Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng: tổ chức và cá nhân. - Danh mục cho vay theo ngành kinh tế: tùy theo quan điểm của ngân hàng và các cơ quan thẩm quyền mà cho vay theo ngành kinh tế được chia nhiều thành phần khác nhau.
- Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư: cho vay sản xuất kinh doanh và phi kinh doanh. - Danh mục cho vay theo loại tiền tệ: nội tệ và ngoại tệ. Ngoài ra còn có một số phân loại khác như tính chất bảo đảm, hình thức cấp tín dụng, khu vực địa lý,… Ở khóa luận này, tác giả phân loại danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (Bank of Korea, 2023) định nghĩa sự ổn định của các định chế tài chính là “một điều kiện trong đó các tổ chức tài chính riêng lẻ đủ lành mạnh để thực hiện đầy đủ chức năng trung gian tài chính của mình mà không cần sự hỗ trợ từ các tổ chức bên ngoài bao gồm cả chính phủ”.
Jahn & Kick (2012) định nghĩa sự ổn định ngân hàng là “trạng thái ổn định trong đó hệ thống ngân hàng thực hiện hiệu quả các chức năng kinh tế quan trọng của nó, chẳng hạn như phân bổ nguồn lực và phân tán rủi ro cũng như thanh toán”. 10 Sự ổn định của ngân hàng biểu thị khoảng cách của một ngân hàng riêng lẻ với sự phá sản và mất khả năng thanh toán của ngân hàng (Beck, 2008). Ozili (2018) đưa ra định nghĩa đơn giản rằng sự ổn định ngân hàng là việc các ngân hàng không gặp phải khủng hoảng. Một số học giả khác khái niệm hóa sự ổn định ngân hàng thông qua sự bất ổn của ngân hàng, nghĩa là sự ổn định là trạng thái đối ngược với sự bất ổn.
Chẳng hạn như Jokipii & Monnin (2013) định nghĩa sự bất ổn ngân hàng là khả năng ngành ngân hàng mất khả năng thanh toán trong tương lai. Nhìn chung, từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu rằng sự ổn định của ngân hàng là khả năng chống đỡ và lành mạnh của ngân hàng trong việc duy trì hoạt động và thực hiện các nghĩa vụ của mình, đặc biệt là trong thời kỳ căng thẳng tài chính hoặc biến động kinh tế. Có một thuật ngữ khác thường được sử dụng thay thế cho ổn định ngân hàng, đó là “ổn định tài chính”. Ổn định tài chính, theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2023), được định nghĩa là khả năng của hệ thống tài chính trong việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính, duy trì mức việc làm gần với tỷ lệ tự nhiên của nền kinh tế và loại bỏ những biến động giá tương đối của tài sản thực hoặc tài sản tài chính sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tiền tệ hoặc mức độ việc làm.
Có thể thấy rằng định nghĩa về “ổn định tài chính” và “ổn định ngân hàng” được trình bày có sự tương đồng rất lớn, do đó nhiều học giả xem hai thuật ngữ này là một (Acharya & Ryan, 2016). Tuy nhiên để cụ thể, ổn định tài chính được coi là sự ổn định của toàn hệ thống tài chính, thường là hệ thống tài chính của một quốc gia. Hệ thống tài chính trên thực tế bao gồm nhiều định chế tài chính khác nhau, như ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, … trong đó ngân hàng luôn đóng vai trò chủ đạo (Thakor, 1996). Do đó sự ổn định của ngân hàng đại diện cho sự ổn định tài chính.
Trong phạm vi đề tài này, khi đề cập đến “ổn định”, tác giả ngụ ý đến “sự ổn định ngân hàng”. Để đo lường về ổn định ngân hàng, các nghiên cứu thường sử dụng chỉ số z-score. Z- score được sử dụng như một chỉ số để đánh giá nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc phá 11 sản. Đại lượng này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sự ổn định và lành mạnh của các tổ chức tài chính, trong đó có các ngân hàng thương mại.
Z-score trong sự ổn định của ngân hàng thường được tính bằng công thức sau: 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑅𝑂𝐴 + 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑧 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = 𝜎(𝑅𝑂𝐴) Trong đó: ROA là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản σ(ROA) là độ lệch chuẩn của ROA Điểm Z về cơ bản đo lường số độ lệch chuẩn mà ROA của ngân hàng sẽ phải giảm trong một năm để làm cạn kiệt vốn chủ sở hữu và dẫn đến mất khả năng thanh toán (Bank of Korea, 2023). Z-socre cao hơn hàm ý sự ổn định cao hơn và xác suất mất khả năng thanh toán thấp hơn, trong khi điểm Z thấp hơn cho thấy rủi ro cao hơn và sự bất ổn tiềm ẩn (Carvallo & Pagliacci, 2016). Z-score là công cụ đánh giá hồ sơ rủi ro của ngân hàng. Bằng cách kết hợp cả khả năng sinh lời (ROA) và mức độ an toàn vốn (CAR), đại lượng cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của ngân hàng và khả năng chống chọi với các cú sốc kinh tế (Ozili, 2018).
Các ngân hàng có thể được so sánh bằng cách sử dụng z-score để xác định độ ổn định tương đối (Rossi & cộng sự, 2009). Sự so sánh này đặc biệt hữu ích cho các cơ quan quản lý, nhà đầu tư và các bên liên quan khác quan tâm đến sự lành mạnh tài chính của các tổ chức khác nhau. Z-score giảm có thể đóng vai trò là tín hiệu cảnh báo sớm về nguy cơ tài chính tiềm ẩn. Việc giám sát những thay đổi trong điểm Z theo thời gian cho phép thực hiện các biện pháp chủ động để giảm thiểu rủi ro và ngăn ngừa tình trạng mất khả năng thanh toán (Laeven & Levine, 2007).
Đối với các cơ quan quản lý, z-score có thể cung cấp thông tin cho các quyết định chính sách, chẳng hạn như đặt ra các yêu cầu về vốn và các tiêu chuẩn pháp lý khác nhằm nâng cao sự ổn định của ngân hàng. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Lý thuyết tài chính doanh nghiệp Lý thuyết tài chính doanh nghiệp do rằng các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách chuyên môn hóa (Ross và cộng sự, 2022). Mặc dù đa dạng hóa thường được coi là một chiến lược để giảm thiểu rủi ro nhưng đa dạng hóa cũng liên quan đến sự đánh đổi với lợi nhuận.
Lý thuyết tài chính doanh nghiệp cho rằng việc chấp nhận thêm rủi ro có thể mang lại lợi nhuận cao hơn (Shim, 2019). Trong bối cảnh các ngân hàng, việc đa dạng hóa quá mức danh mục cho vay, đặc biệt là vào các lĩnh vực không quen thuộc hoặc có rủi ro cao, thực sự có thể làm tăng rủi ro tổng thể thay vì giảm thiểu nó (Kusi và cộng sự, 2020). Điều này có thể là do các ngân hàng mạo hiểm tham gia vào các thị trường hoặc các loại hình cho vay mà họ thiếu chuyên môn, dẫn đến đánh giá tín dụng kém và tỷ lệ vỡ nợ cao hơn (Šeho và cộng sự, 2021).