CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh Hiện tƣợng chảy máu chất xám đã và đang là vấn đề quan tâm của nhiều nƣớc đang phát triển nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Tỉ lệ du học sinh (DHS) Trung Quốc không về nƣớc khá cao. Cụ thể, trong giai đoạn 1978-2007, Trung Quốc có trên 1,21 triệu ngƣời đi học và nghiên cứu ở nƣớc ngoài, tuy nhiên, chỉ khoảng 25% trở về nƣớc (Cao, 2008). Ở Thổ Nhĩ Kỳ, vào những năm 2000, làn sóng di cƣ của các chuyên gia và quyết định ở lại nƣớc ngoài của DHS Thổ Nhĩ Kỳ đến mức báo động, tạo mối quan tâm, lo ngại cho chính phủ (CP) bởi sự mất đi một lƣợng lớn về vốn con ngƣời sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến phát triển và tăng trƣởng của đất nƣớc trong dài hạn.
Những đề án nghiên cứu về hiện tƣợng chảy máu chất xám ở những nƣớc này đƣợc hình thành với hàng loạt các cải cách về kinh tế, chính trị và xã hội đồng thời kêu gọi, thu hút sự trở về của những ngƣời có trình độ và nguyện vọng đóng góp cho đất nƣớc. Hiện tƣợng chảy máu chất xám cũng đang gióng lên hồi chuông báo động ở Việt Nam. Lƣợng mất mát vốn con ngƣời có chất lƣợng cao này đối với nƣớc nhà sẽ làm ảnh hƣởng đến sự phát triển đất nƣớc trong dài hạn và tạo hiệu ứng bầy đàn cho nhiều thế hệ sau nếu CP thiếu sự quan tâm và dành những chính sách để thu hút sự trở về của nhóm ngƣời này. Từ xa xƣa, ông cha ta đã khẳng định “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nƣớc mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nƣớc yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vƣơng không ai không chăm lo xây dựng nhân tài” (Trích Bia Văn Miếu – Quốc Tử Giám).
Ngày nay, trong thời kì đổi mới – mở cửa phát triển nền kinh tế thị trƣờng, mở rộng giao thƣơng và hợp tác với bạn bè trên thế giới, Việt Nam cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của vốn con ngƣời đối với sự phát triển đất nƣớc. Từ năm 2000, hàng loạt các đề án đƣa sinh viên, cán bộ đi du học, tiếp thu kiến thức, văn hóa tinh túy trên thế giới bằng ngân sách nhà nƣớc (Đề án 322, Đề án 911,…), đồng thời cũng mở cửa cho các trƣờng đại học nƣớc ngoài vào tuyển sinh. Theo ông Nguyễn Xuân Vang - Cục trƣởng Cục đào tạo với nƣớc ngoài của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Việt Nam có hơn 100,000 DHS1 đang học ở gần 50 nƣớc trên thế giới (2012) với khoảng 10% DHS theo diện học bổng và 90% là du học tự túc (Thanh Lam, 2013). Tuy nhiên, theo báo cáo “Thúc đẩy khoa 1 Qui ƣớc: “,”: phân cách phần nghìn; “.”: phân cách phần thập phân để thống nhất với kết quả của Stata.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- học, công nghệ, và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cho tăng trƣởng bền vững tại Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2014), chảy máu chất xám là một trong ba thách thức cho tăng trƣởng bền vững của Việt Nam2. Số lƣợng sinh viên Việt Nam học ở các nƣớc phát triển theo diện học bổng và tự túc đều tăng. Theo Australian Education International (2013), Việt Nam xếp thứ 4 về số du học sinh tại Úc (sau Trung Quốc, Ấn Độ, và Hàn Quốc). Theo ngân hàng HSBC, Việt Nam xếp thứ 8 về số du học sinh tại Mỹ (Thanh Xuân, 2014).
Những nƣớc tiếp nhận DHS có những chính sách tạo điều kiện thúc đẩy con đƣờng du học của học sinh, sinh viên Việt Nam. Chẳng hạn, Úc sẵn sàng cấp giấy phép ở lại làm việc cho ngƣời có trình độ cao; Singapore cũng đồng ý cho DHS ở lại sau khi tốt nghiệp nếu đƣợc một công ty tiếp nhận (Yến Anh, 2008); Anh cho phép sinh viên tốt nghiệp sau đại học đƣợc ở lại phát triển kĩ năng (Ministry of Foreign Affairs in Vietnam, 2012). Do đó, DHS càng có cơ hội ở lại nƣớc ngoài sau thời gian học tập. Trong khi đó, hiện nay Việt Nam đang có nhu cầu cao về nhân lực có kĩ năng nhằm đóng góp và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
Hàng loạt các chính sách phát triển khoa học, kĩ thuật, công nghệ (KH-KT-CN) cao thuộc nhiều lĩnh vực nhƣ: nông nghiệp, công nghệ vi mạch,…Những dự án từ những chính sách này thƣờng mang tính đột phá nên cần sự đóng góp của DHS – những ngƣời tiếp cận nền giáo dục tiên tiến trên thế giới về dẫn dắt. Và cũng chính lực lƣợng chất lƣợng cao này sẽ tạo ngoại tác tích cực – chuyển giao công nghệ, tạo môi trƣờng trao đổi học hỏi, nâng cao chuyên môn trong nhóm làm việc. DHS còn tham gia phát triển doanh nghiệp hoặc tự khởi nghiệp tại nƣớc nhà. Một môi trƣờng kinh doanh cạnh tranh công bằng sẽ thu hút nhiều tập đoàn quốc tế lớn đầu tƣ và sự hình thành các doanh nghiệp có tiềm lực phát triển.
Từ năm 2011, Thủ tƣớng CP giao cho Bộ Ngoại giao chủ trì xây dựng đề án “Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, bố trí sử dụng tài năng trẻ học tập, công tác, sinh sống ở nước ngoài về nước tham gia phát triển đất nước”. Từ đó đến nay, nhiều cơ chế, chính sách mới liên quan đến việc thu hút và tuyển dụng nhân tài trẻ trong và ngoài nƣớc đã đƣợc các Bộ trình CP và đƣợc ban hành (Phụ lục A. Tuy nhiên, kết quả thực hiện không nhƣ mong 2 Theo một vài khảo sát, khoảng 70% DHS không trở về nƣớc sau khi tốt nghiệp. Do Việt Nam chƣa có số liệu tổng hợp chính thức, tác giả sƣu tầm thêm từ nhiều nguồn trên các trang mạng chính thức nhƣ http://nld.vn/giao-duc-khoa-hoc/60000-du-hoc-sinh-nguon-nhan-luc-tuong-lai-243931.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đầu năm 2014, Bộ Chính trị (BCT) đã có kết luận về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ thông qua Kết luận số 86- KL/TW. BCT nhận xét chính sách thu hút nhìn chung chƣa đủ sức thu hút mạnh mẽ và đồng thời cũng đƣa ra nguyên nhân chủ yếu là “do công tác của nhiều cấp uỷ, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở … còn thiếu nhất quán, chưa đầy đủ và mạnh mẽ; hệ thống cơ chế, chính sách chưa phù hợp, thiết thực, thiếu khả thi đối với từng đối tượng, lĩnh vực cần thu hút; tổ chức thực hiện còn mang tính chắp vá, hình thức”. Để khắc phục tình trạng này, BCT cũng chỉ đạo những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu và cụ thể để thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ nhƣ chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm, lương, nâng ngạch công chức viên chức, nhà ở, tôn vinh và khen thưởng.
Tuy nhiên để hoạch định và triển khai chính sách thu hút DHS có hiệu quả, thiết thực và gắn kết với nguyện vọng của DHS cần nghiên cứu toàn diện các yếu tố ảnh hƣởng đến dự định trở về hay không về nƣớc của du học sinh Việt Nam (DHSVN).2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố từ nhiều khía cạnh ảnh hƣởng đến dự định về hay không về của DHSVN đang học tập hoặc làm việc ở nƣớc ngoài; từ đó, ƣớc lƣợng mức độ tác động của các yếu tố đến dự định về hay không về và khuyến nghị những chính sách dựa trên những yếu tố quan trọng nhất để hạn chế tình trạng chảy máu chất xám, thu hút nhân tài cho đất nƣớc.3 Câu hỏi chính sách Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung trả lời ba câu hỏi sau: i. Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến dự định về nƣớc hay ở lại nƣớc ngoài của DHSVN? ii. Những yếu tố này có mức độ tác động nhƣ thế nào đến dự định trở về hay không về của DHSVN? iii. Chính sách can thiệp nào cần thiết để thu hút DHSVN trở về nƣớc, đóng góp cho sự phát triển của nƣớc nhà? 1.4 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng khảo sát là DHSVN đang học hay đang làm việc ở nƣớc ngoài.
Khái niệm DHSVN trong đề tài này đƣợc hiểu là ngƣời đã hoặc đang học tập ở nƣớc ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- Đối tƣợng nghiên cứu: dự định trở về của DHSVN (gồm cả dự định chắc chắn không về). Đề tài khảo sát dự định trở về của 2 nhóm DHSVN: (1) Nhóm sinh viên gồm những DHS đang học tập ở nƣớc ngoài; (2) Nhóm đi làm gồm những DHS đã tốt nghiệp ở nƣớc ngoài, và đang làm việc ở nƣớc ngoài. Tuy nhiên, số quan sát thu đƣợc của nhóm đi làm không đủ cho mô hình hồi quy probit có thứ tự nên dữ liệu thu đƣợc của nhóm này chỉ dùng để so sánh với nhóm sinh viên.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu dựa trên mô hình lực hút – lực đẩy của Güngör và Tansel (2003) để xây dựng các yếu tố có thể ảnh hƣởng đến dự định trở về của DHSVN.
Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn cấu trúc/bán cấu trúc để hiệu chỉnh thang đo. Sau đó, phƣơng pháp định lƣợng (hồi quy probit có thứ tự) đƣợc sử dụng để xác định các nhân tố có ảnh hƣởng và tác động biên của các yếu tố này đến dự định trở về của DHSVN. Tác giả dựa vào mức độ tác động biên của các yếu tố lên dự định trở về của DHS và tỉ lệ DHS lựa chọn các yếu tố này để đề xuất, khuyến nghị chính sách. Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp thu đƣợc từ khảo sát bằng bảng hỏi điện tử và phỏng vấn cấu trúc/bán cấu trúc, kết hợp với dữ liệu thứ cấp từ các bài báo, nghiên cứu khoa học quốc tế và trong nƣớc về phân tích các yếu tố tác động đến dự định về hay không về của DHS.6 Kết cấu đề tài Chƣơng 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng, và phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý thuyết, và lƣợc khảo kết quả nghiên cứu trƣớc. Chƣơng 3 trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phƣơng pháp chọn mẫu, xác định kích thích mẫu. Chƣơng 4 trình bày kết quả nghiên cứu và các thảo luận. Chƣơng 5 gồm kết luận, đề xuất các gợi ý chính sách, và các hạn chế, hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.