Mở đầu Chương này nêu lý đo chọn đề tài, mục tiêu chung và những mục tiêu cụ thể cần nghiên cứu. Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn. Chương 2: Tông quan Mô tả tong quan tài liệu nghiên cứu và dia bàn nghiên cứu.
Nêu lên thực trạng vấn đề cần nghiên cứu. Mục tiêu của phần này nhằm mô tả các vấn đề nghiên cứu trước đây, địa bàn nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương này gồm cơ sở lý luận và phần phương pháp nghiên cứu. Mục tiêu của chương 3 là nhằm đưa ra cái khái niệm và lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu, cũng như trình bày chỉ tiết phần phương pháp nghiên cứu mà đề tài sẽ thực hiện.
Kết quả và thảo luận Đây là chương trọng tâm chính của dé tai, là phan thé hiện các kết quả nghiên cứu chính đề làm rõ các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Kết luận và kiến nghị Chương này rút ra kết quả đạt được trong đề tài, từ đó đưa ra các kiến nghị cũng như các hạn chế và những hướng nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2.1 Tong quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan 2.1 Nghiên cứu trên thế giới L. Tsourgiannis và cộng sự (2008) nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh tiếp thị của nông dân chăn nuôi cừu và dê ở khu vực phía đông Macedonia ở Hy Lạp liên quan đến việc phân phối sản lượng sữa.
Nghiên cứu này nhằm xác định các kênh tiếp thị mà người nông dân sử dung dé phân phối sản pham của họ và các yêu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng từng cơ sở tiếp thị thông qua cuộc khảo sát 343 nông dân được chọn ngẫu nhiên. Bằng phương pháp phân tích hồi quy Logistic đã chỉ ra các yêu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh tiếp thị của nông dân là: (1) quy mô đàn; (2) sản lượng sữa; (3) thu nhập của trang trại; (4) nợ nan. Ngoài ra con có giá bán, tốc độ thanh toán, lòng trung thành cũng có ảnh hưởng đáng ké đến việc lựa chọn cửa hàng tiếp thị. Stallman va Harvey S.
(2015) đã nghiên cứu các yếu tố anh hưởng đến sự sẵn sang hop tác của nông dân dé kiểm soát dich hại thông qua khảo sát 229 nông dân trồng trọt ở Missouri dé hiểu rõ sự hợp tác của nông dân. Kết quả cho thay các yêu tô ảnh hưởng đến việc sẵn lòng hợp tác tuân theo những yếu tố được dự đoán bởi hành động tập thé, áp dụng nông nghiệp và tài liệu sinh thái cụ thé là họ sẽ nhận được lợi ích ròng, có trang trại tương tự như hàng xóm, là thành viên của một tô chức cộng đồng, có liên hệ tích cực với đại lý khuyến nông và quan tâm đến tác động của thuốc trừ sâu đối với môi trường.Aldosari (2017) nghiên cứu về sự tham gia của giới vào chăn nuôi đê ở Najran, Nam A Rap Xê Út. Nghiên cứu nhằm xác định yếu tố và thông số ảnh hưởng đến sự tham gia của giới trong chăn nuôi cừu và dê. Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng van 167 học sinh trung học, bao gồm 70 học sinh nam và 97 học sinh nữ, ở Al- Wadiah, bằng cách sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản thông qua phân tích thông kê dé thiết lập mối quan hệ giữa giới tính và sự tham gia vào chăn nuôi cừu và dé.
Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kê giữa hai giới tính. Nhìn chung, việc nuôi cừu và nuôi dê có lợi hơn cho nam giới so với nữ, do kinh nghiệm và sự quan tâm của họ nhiều hơn đến chăn nuôi và trồng trọt. Hơn nữa, họ nhận được nhiều lợi ích hơn từ TV, đài phát thanh và các phòng khám thú y dé duy trì sức khỏe đàn vật nuôi của họ tốt hơn. Gizachew Wosene và cộng sự (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn đầu ra thị trường của các nhà sản xuất hồ tiêu ở huyện Wonberma, Tây Bắc Ethiopia.
Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tô quyết định đến sự lựa chọn đầu ra thị trường của các hộ sản xuất tiêu nhỏ ở quận Wonberma thuộc Khu Tây Gojjam thuộc Vùng Amhara, Ethiopia. Phương pháp lấy mau hai giai đoạn được sử dụng và dit liệu được thu thập từ 130 hộ sản xuất hồ tiêu. Mô hình probit đa biến (MVP) được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn đầu ra thị trường của các hộ sản xuất hồ tiêu quy mô nhỏ. Kết quả chỉ ra rằng: (1) đặc điểm nhân khâu học; (2) khoảng cách đến thị trường; (3) kinh nghiệm làm nông; (4) tần suất tiếp xúc với phần mở rộng; (5) sô năm đi học; (6) năng lực thương lượng; (7) giá trị gia tăng; (8) quyền sở hữu vật nuôi là các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn tiêu thụ thị trường của người sản xuất hỗ tiêu.
Roland Azibo Balgah (2018) nghiên cứu về các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng cà phê ở hai khu vực vùng Tây Bắc của Cameroon. Dữ liệu được thu thập từ 140 nông dân được chọn ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy các yếu tố như tuôi của nông dân, số mảnh đất sở hữu, khả năng tiếp cận tín dụng, trình độ học vấn, giới tính và thu nhập của nông dân hầu như không ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã. Các yếu tố có ảnh hưởng bao gồm: quy mô, kinh nghiệm canh tác cà phê và việc tham gia hợp tác xã có trả phí đúng hạn hay không, trong đó yếu tố chính thúc đầy việc gia nhập hợp tác xã là quy mô trang trại sản xuất.
Mwanga và cộng sự (2019) đã thực hiện điều tra đa quốc gia về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chăn nuôi của các nông hộ chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ ở Châu Phi cận Sahara. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định và mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của nông dân sản xuất nhỏ giữa dich vụ bò đực và AI cho chan nuôi bò sữa. Thống kê mô tả, kiêm định chi bình phương và kiêm định t được sử dung dé đánh giá các biến độc lập và phụ thuộc, trong khi hồi quy logistic và phân tích nhân tố được sử dụng dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chăn nuôi của nông 15 dân. Kết qua cho thấy các yếu tô ảnh hưởng bao gồm: (1) đặc điểm trang trại; (2) đặc điểm nông đân; (3) cơ sở hạ tầng và thể chế; (4) thu nhập từ trang trại.2 Nghiên cứu ở Việt Nam Với mục đích tìm hiểu rõ hơn về giống dê, Lê Thị Thủy và cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu đặc điểm kiểu hình của giống dê ở Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện bang cách điều tra và phát phiếu phỏng van, thu thập số liệu, mô ta hình thái của các giống và năng suất của chúng tại 5 tỉnh: Hà Giang, Hà Tây, Sơn La, Thanh Hóa va Ninh Thuận. Kết quả cho thay đàn dé phân bố chủ yếu là ở miền núi phía Bắc. Trong đó, dê Có được người nông thôn nuôi theo hệ thống bán thâm canh hoặc quảng canh. Đàn dê Bách Thảo được nuôi chủ yếu ở các tỉnh duyên hải miền Trung để lấy thịt và sữa.
Sáu giống được đưa vào để lấy sữa và thịt là: Saanen, Boer, Alpille, Barbari, Jamnapari va Beetle. Chúng đóng góp đáng ké vào sản xuất dé và được lai với giống địa phương dé nâng cao năng suất chăn nuôi dé. Mức sinh sản chủ yếu diễn ra từ tháng 4 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 10. Nguồn thức ăn là sẵn có từ lá cây, nuôi với hình thức chăn thả là phô biến.
Phạm Xuân Thanh va Mai Thanh Cúc (2014) nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu cũng như mức độ của nó đến quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi của dân trong chăn nuôi lợn thịt. Thông qua điều tra phỏng vấn ngẫu nhiên 366 hộ cùng với ham Logit dé phân tích thông tin, các yếu tô được xác định là: (1) vốn đầu tư; (2) diện tích đất nông nghiệp; (3) số năm đi học của chủ hộ; (4) thu nhập của hộ; (5) tình trạng tham gia liên kết. Trong đó tham gia liên kết trong chăn nuôi của hộ là yếu tô ảnh hưởng lớn nhất.
Dinh Ngọc Lan va cộng sự (2021) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đến tổng sản lượng thịt lợn và gia cầm tại miền núi phía Bắc dé đánh giá mức độ ảnh hưởng của liên kết sản xuất và tiêu thụ thịt lợn, gia cầm và trứng gia cầm. Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến, trên cơ sở tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây về các yếu tô ảnh hưởng đến tổng sản lượng sản phẩm được sản xuất, mô hình định lượng được thiết lập trong phạm vi nghiên cứu này bao gồm 4 biến độc lập: (1) sản lượng sản phẩm sản xuất dưới hình thức hợp tác/liên kết; 16 (2) số hợp tác xã tham gia liên kết với doanh nghiệp; (3) số doanh nghiệp hợp đồng liên kết với HTX; (4) nông dân (DN) và số trang trại. Kết quả cho thấy, liên kết sản xuất và tiêu thụ có ảnh hưởng tích cực đến việc tăng sản lượng thịt lợn và gia cầm. Trần Hoài Nam và cộng sự (2022) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá chất lượng hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá chất lượng hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ chăn nuôi bò sữa, từ đó gợi ý một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả liên kết trong chăn nuôi bò sữa. Đề thực hiện nghiên cứu này, mô hình phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) tác giả sử dụng thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi. Kết quả cho thấy, khi liên kết, các công ty thu mua sữa có nguồn nguyên liệu ôn định, người chăn nuôi đỡ lo lắng khi đầu tư và phát triển mở rộng dé đạt được hiệu quả chăn nuôi. Ngoài ra, kết quả cũng chi ra các nhân tố tác động đến sự hai lòng của nông hộ trong mối liên kết này là: (1) sự chia sẻ thông tin; (2) sự tin tưởng; (3) sự hợp tác phối hợp; (4) sự cam kết.