Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2006–2010, nền kinh tế tỉnh Tây Ninh ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) bình quân đạt 14,2%/năm, trong đó ngành thương mại – dịch vụ bứt phá mạnh mẽ với mức tăng trên 18%/năm. Mặc dù địa phương sở hữu nguồn tài nguyên phong phú và hàng năm đón tiếp hơn 1,8 triệu lượt du khách (chiếm hơn 90% tập trung tại khu di tích danh thắng Núi Bà Đen), tỷ trọng đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP của tỉnh chỉ đạt khoảng 0,4%. Thực trạng này phản ánh nghịch lý lớn: nguồn lực du lịch dồi dào nhưng giá trị kinh tế thu về lại rất khiêm tốn, dẫn đến nhận định tài nguyên du lịch Tây Ninh vẫn chủ yếu dừng lại ở dạng tiềm năng chưa được khai phóng.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phát triển sản phẩm du lịch tại địa phương còn manh mún, mang tính mùa vụ cao và thiếu các dịch vụ bổ trợ để giữ chân du khách. Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển với đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Tây Ninh" được thực hiện nhằm giải quyết ba mục tiêu nghiên cứu trọng tâm: đánh giá hiện trạng tài nguyên và thực trạng khai thác sản phẩm du lịch; nhận diện và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến sự phát triển sản phẩm du lịch thông qua khảo sát ý kiến du khách; và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy ngành du lịch địa phương bứt phá.
Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Tây Ninh gồm 1 thị xã và 8 huyện, tập trung vào các không gian du lịch trọng điểm như quần thể Núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài, di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Hồ Dầu Tiếng và Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát. Chuỗi dữ liệu phân tích được thu thập trong giai đoạn 2005–2010 với tầm nhìn định hướng đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch vào ngân sách, đồng thời tạo tiền đề nâng mức chi tiêu bình quân của du khách và gia tăng thời gian lưu trú tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai khung lý thuyết nền tảng trong kinh tế du lịch: lý thuyết cấu thành sản phẩm du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và mô hình phân loại sản phẩm du lịch địa phương của Jeffries và Krippendorf. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết về trải nghiệm du khách của John Urry (2002) nhằm phân tích mối quan hệ tương tác giữa điểm đến và cảm nhận của người tiêu dùng dịch vụ.
Hệ thống lý thuyết định hình 5 khái niệm cốt lõi:
- Sản phẩm du lịch: Tổng thể phức hợp bao gồm tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống và các trải nghiệm văn hóa được cung cấp đồng bộ nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách.
- Khách du lịch: Người thực hiện chuyến đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên trong thời gian ít nhất 24 giờ và không quá 1 năm với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, không nhằm mục đích kiếm thu nhập tại nơi đến.
- Tài nguyên du lịch: Toàn bộ cảnh quan tự nhiên và các giá trị di sản văn hóa, lịch sử, ẩm thực có khả năng thu hút du khách và tạo động lực phát triển kinh tế.
- Môi trường chính sách và xúc tiến: Các thể chế, quy hoạch và chương trình quảng bá đóng vai trò điều tiết và hỗ trợ thị trường du lịch.
- Sự hài lòng của du khách: Mức độ tương thích giữa kỳ vọng ban đầu và trải nghiệm thực tế tiêu dùng sản phẩm du lịch tại điểm đến.
Mô hình nghiên cứu định lượng thiết lập giả thuyết về 5 nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh, bao gồm: Sức hấp dẫn của tài nguyên (thiên nhiên và nhân văn), Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (lưu trú, ăn uống, giải trí), Nguồn nhân lực phục vụ, và Môi trường chính sách cùng hoạt động xúc tiến quảng bá. Thang đo được cụ thể hóa thành 24 biến quan sát đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý).
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng trên nguồn dữ liệu đa tầng:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo niên giám thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh, cùng các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương giai đoạn 2005–2010.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua quá trình khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý ngành và điều tra xã hội học đối với du khách.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện phát 300 bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp cho du khách trong nước và quốc tế tại các điểm tham quan trọng yếu. Tổng số phiếu thu về là 285 phiếu, sau khi sàng lọc và làm sạch dữ liệu, còn lại 277 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích (đạt tỷ lệ phản hồi hợp lệ 92,3%). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thuận tiện, phân bổ đều theo các cụm điểm đến: Núi Bà Đen (50%), Tòa Thánh Tây Ninh (25%), Căn cứ Trung ương Cục và các điểm sinh thái, cửa khẩu (25%).
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho phép lượng hóa chính xác mức độ ảnh hưởng của từng thành phần sản phẩm. Phương pháp này giúp khắc phục tính cảm tính của các đánh giá định tính đơn thuần, kiểm định mối quan hệ nhân quả một cách khách quan và xác định rõ thứ tự ưu tiên cho các chính sách đầu tư. Toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2009 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm về thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh:
Thứ nhất, tài nguyên du lịch tâm linh và danh thắng tự nhiên là động lực cốt lõi thu hút du khách nhưng đang chịu áp lực quá tải cục bộ. Biến quan sát về tính độc đáo của danh lam thắng cảnh đạt điểm đánh giá trung bình cao nhất (4,18/5 điểm). Tuy nhiên, có tới 92,4% du khách nội địa đến Tây Ninh chỉ với mục đích hành hương, lễ bái tại Núi Bà Đen và Tòa Thánh Cao Đài. Trong khi đó, các tài nguyên sinh thái tầm cỡ như Hồ Dầu Tiếng với diện tích 27.000 ha hay Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát với hơn 130 loài chim nước chỉ thu hút dưới 5% tổng lượng khách du lịch toàn tỉnh.
Thứ hai, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch còn rất đơn điệu, nhận điểm đánh giá thấp nhất trong các nhóm nhân tố (2,68/5 điểm). Có đến 82,5% du khách được khảo sát lựa chọn phương án tham quan đi về trong ngày, thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,15 ngày/khách. Cơ cấu chi tiêu bình quân của du khách ước tính chỉ đạt dưới 250.000 VNĐ/người/ngày vào năm 2010, chủ yếu chi trả cho vé cáp treo, đồ lễ và ăn uống bình dân.
Thứ ba, hệ thống hạ tầng giao thông và tính kết nối liên vùng có sự phân hóa rõ nét. Trục Quốc lộ 22 (dài 28,5 km qua địa bàn tỉnh) và Quốc lộ 22B (dài 87,6 km) đáp ứng tốt nhu cầu kết nối từ Thành phố Hồ Chí Minh đến các cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát. Tuy nhiên, hạ tầng đường nhánh kết nối các khu du lịch nội tỉnh chỉ đạt mật độ giao thông ở mức trung bình, làm giảm 40% khả năng tổ chức các tour du lịch liên hoàn dài ngày của các công ty lữ hành.
Thứ tư, nguồn nhân lực và công tác xúc tiến quảng bá chưa tương xứng với tiềm năng. Khoảng 70% lao động trực tiếp tại các điểm dịch vụ chưa qua đào tạo nghiệp vụ du lịch bài bản. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy công tác xúc tiến quảng bá và chất lượng dịch vụ bổ trợ có tác động thuận chiều mạnh mẽ đến quyết định quay trở lại của du khách, thể hiện qua hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta đạt 0,342 (với mức ý nghĩa thống kê p < 0,01).
Thảo luận kết quả
Kết quả phân tích định lượng đã lý giải rõ nguyên nhân vì sao ngành du lịch Tây Ninh chỉ đóng góp khoảng 0,4% vào GDP tỉnh dù sở hữu lượng khách ấn tượng trên 1,8 triệu lượt. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở sự thiếu hụt các sản phẩm du lịch bổ trợ có khả năng thương mại hóa cao như khu vui chơi giải trí ban đêm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và chuỗi khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp. Du lịch Tây Ninh trong thời gian dài vận hành như một "điểm dừng chân hành hương ngắn hạn", phụ thuộc nặng nề vào các tháng lễ hội đầu năm (chiếm trên 75% lượng khách cả năm).
Khi so sánh với các nghiên cứu về kinh tế du lịch tại các tỉnh Đông Nam Bộ, kết quả này hoàn toàn nhất quán với quy luật phát triển của các vùng phụ cận đô thị lớn: nếu không xây dựng được sản phẩm đặc thù và chuỗi dịch vụ khép kín, địa phương sẽ trở thành thị trường tiêu thụ một chiều cho các công ty lữ hành từ trung tâm lớn đưa khách đến rồi rời đi ngay trong ngày.
Dữ liệu nghiên cứu được mô hình hóa trực quan thông qua bảng ma trận tương quan và biểu đồ phân tán hồi quy. Mô hình hồi quy đa biến đạt hệ số xác định R bình phương hiệu chỉnh là 0,614, minh chứng rằng 61,4% sự biến thiên của mức độ thỏa mãn và phát triển sản phẩm du lịch tại Tây Ninh được giải thích bởi 5 nhóm yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Biểu đồ cơ cấu cho thấy sự chênh lệch lớn giữa tỷ trọng khách hành hương (hơn 90%) so với khách du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng (dưới 10%), đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu danh mục sản phẩm du lịch của tỉnh.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ được đề xuất nhằm phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh bền vững:
- Tái cấu trúc và đa dạng hóa danh mục sản phẩm du lịch đặc thù:
Xây dựng các tuyến du lịch tích hợp "Tâm linh – Sinh thái – Lịch sử nguồn cội – Ẩm thực", liên kết Núi Bà Đen với Tòa Thánh Tây Ninh, Hồ Dầu Tiếng, Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát và di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam.
- Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh chủ trì, phối hợp cùng các hiệp hội du lịch và doanh nghiệp lữ hành.
- Mục tiêu đo lường: Nâng thời gian lưu trú bình quân từ 1,15 ngày lên 2,0 ngày/khách; nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm đạt mức 35% vào năm 2015.
- Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2011–2013.
- Hoàn thiện hạ tầng giao thông và kêu gọi đầu tư cơ sở lưu trú cao cấp:
Tập trung nâng cấp các tuyến đường liên huyện kết nối 2 trục Quốc lộ 22 và Quốc lộ 22B đến các khu danh thắng; ban hành chính sách ưu đãi đất đai để thu hút các nhà đầu tư chiến lược xây dựng tổ hợp khách sạn 3–4 sao và khu nghỉ dưỡng ven Hồ Dầu Tiếng.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải.
- Mục tiêu đo lường: Bổ sung ít nhất 1.500 phòng lưu trú đạt chuẩn chất lượng cao; tăng tốc độ thu hút vốn đầu tư du lịch đạt 25%/năm.
- Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2011–2015.
- Chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực du lịch địa phương:
Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ buồng phòng, thuyết minh viên và văn hóa kinh doanh cho cộng đồng dân cư tham gia cung ứng dịch vụ.
- Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Du lịch Tây Ninh liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mục tiêu đo lường: Đạt trên 65% tỷ lệ lao động du lịch được cấp chứng chỉ đào tạo chuẩn hóa; nâng điểm đánh giá mức độ hài lòng về thái độ phục vụ lên trên 4,2/5 điểm.
- Lộ trình thực hiện: Triển khai thường niên trong giai đoạn 2012–2015.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại gắn liền với thương hiệu ẩm thực bản địa:
Xây dựng cổng thông tin xúc tiến du lịch số, đẩy mạnh quảng bá các sản phẩm quà tặng và ẩm thực trứ danh như bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, bánh canh Trảng Bàng, muối tôm Tây Ninh và tiệc chay Cao Đài; liên kết khai thác tuyến du lịch quốc tế đường bộ xuyên Á qua 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát.
- Chủ thể thực hiện: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Tây Ninh cùng các cơ sở làng nghề truyền thống.
- Mục tiêu đo lường: Nâng mức chi tiêu bình quân của du khách lên trên 600.000 VNĐ/người/ngày; duy trì tốc độ tăng trưởng khách quốc tế từ 15% đến 20%/năm.
- Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2012–2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo ứng dụng sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch:
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh cùng Ủy ban nhân dân 8 huyện và 1 thị xã trên địa bàn có thể sử dụng hệ thống số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2011–2020, điều chỉnh các chính sách quản lý nhà nước trên hơn 69.786 ha đất lâm nghiệp và bảo tồn thiên nhiên.
-
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, khách sạn và nhà hàng:
Các công ty lữ hành tại Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam Bộ có thể dựa vào mô hình nhân tố để thấu hiểu hành vi tiêu dùng của hơn 1,8 triệu lượt khách, từ đó thiết kế lại các tour du lịch 2 ngày 1 đêm kết hợp trải nghiệm ẩm thực Trảng Bàng và du lịch sinh thái thay vì chỉ khai thác tour 1 ngày truyền thống.
-
Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành kinh tế, du lịch:
Tài liệu cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về việc ứng dụng mô hình phân tích nhân tố EFA kết hợp hồi quy đa biến trong nghiên cứu kinh tế phát triển cấp tỉnh, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và thực hiện các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế dịch vụ.
-
Các nhà đầu tư bất động sản du lịch và các tổ chức phát triển cộng đồng:
Cung cấp bức tranh toàn cảnh về dung lượng thị trường, mức độ cạnh tranh và khoảng trống dịch vụ lưu trú chất lượng cao, giúp các nhà đầu tư đánh giá chính xác tính khả thi tài chính trước khi rót vốn vào các dự án nghỉ dưỡng quanh Hồ Dầu Tiếng và chân Núi Bà Đen.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao du lịch Tây Ninh đón hơn 1,8 triệu lượt khách mỗi năm nhưng đóng góp vào GDP chỉ đạt 0,4%?
Thực trạng này xảy ra do hơn 90% lượng khách chỉ tập trung vào mùa lễ hội đầu năm tại Núi Bà Đen và trên 82% du khách rời đi ngay trong ngày. Việc thiếu hụt hệ thống lưu trú cao cấp và các dịch vụ vui chơi ban đêm khiến mức chi tiêu bình quân của du khách chỉ đạt dưới 250.000 VNĐ/ngày.
-
Yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của du khách khi tiêu dùng sản phẩm du lịch Tây Ninh?
Kết quả kiểm định hồi quy xác định rằng sức hấp dẫn của tài nguyên tự nhiên, văn hóa (hệ số Beta = 0,385) và chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật cùng dịch vụ bổ trợ (hệ số Beta = 0,342) là hai nhân tố có sức ảnh hưởng chi phối lớn nhất đến quyết định lựa chọn và quay trở lại của du khách.
-
Vị trí địa lý và hệ thống hạ tầng giao thông mang lại lợi thế chiến lược gì cho du lịch Tây Ninh?
Tây Ninh tiếp giáp với đô thị hơn 8 triệu dân Thành phố Hồ Chí Minh và có 240 km đường biên giới giáp Campuchia. Thông qua trục Quốc lộ 22 dài 28,5 km và 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát, địa phương nắm giữ vị thế cửa ngõ then chốt trên tuyến hành lang du lịch xuyên Á sang Phnom Penh và Bangkok.
-
Văn hóa ẩm thực bản địa đóng góp như thế nào vào chuỗi giá trị sản phẩm du lịch địa phương?
Các đặc sản nổi tiếng như bánh tráng phơi sương, bánh canh Trảng Bàng, muối tôm và nghệ thuật ẩm thực chay Cao Đài đóng vai trò gia tăng trải nghiệm văn hóa độc đáo. Các sản phẩm này chiếm hơn 35% tổng cơ cấu chi tiêu mua sắm của du khách và tạo điểm nhấn nhận diện thương hiệu khó thay thế.
-
Lộ trình phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh giai đoạn tiếp theo cần ưu tiên những nhiệm vụ gì?
Đề tài định hướng lộ trình ưu tiên: giai đoạn 2011–2013 tập trung nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối các tuyến nhánh và chuẩn hóa nguồn nhân lực; giai đoạn 2013–2015 tập trung thu hút vốn FDI và doanh nghiệp tư nhân phát triển các khu nghỉ dưỡng sinh thái ven Hồ Dầu Tiếng để nâng tỷ lệ lưu trú lên 35%.
Kết luận
- Luận văn đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về ngành du lịch Tây Ninh với quy mô đón hơn 1,8 triệu lượt khách/năm nhưng chỉ đóng góp 0,4% vào GDP tỉnh.
- Mô hình nghiên cứu định lượng đã kiểm định thành công 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng, giải thích 61,4% sự biến thiên trong mức độ phát triển sản phẩm du lịch.
- Khẳng định giá trị khác biệt của hệ sinh thái tài nguyên kết hợp giữa Núi Bà Đen cao 986m, Hồ Dầu Tiếng rộng 27.000 ha và di sản tôn giáo Cao Đài độc nhất vô nhị.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện gắn liền với lộ trình cụ thể và các chỉ số đo lường hiệu quả đến năm 2015.
- Xác định rõ vai trò then chốt của việc chuyển dịch cơ cấu từ du lịch hành hương một ngày sang du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái và văn hóa dài ngày.
Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là tạo lập hệ thống luận cứ khoa học thực chứng đầu tiên về mô hình phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh, cung cấp cẩm nang thực tiễn cho công tác hoạch định chiến lược kinh tế địa phương.
Về kế hoạch triển khai tiếp theo, tỉnh cần ưu tiên hoàn thiện hạ tầng 87,6 km Quốc lộ 22B, quy hoạch phân khu du lịch Hồ Dầu Tiếng và triển khai chuẩn hóa dịch vụ du lịch giai đoạn 2011–2015. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp hãy tham khảo và khai thác triệt để các phát hiện khoa học từ công trình nghiên cứu này nhằm đưa du lịch Tây Ninh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai.