CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên chỉ ra tầm quan trọng của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời tác giả đề xuất 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể từ mục tiêu nghiên cứu tổng thể và giải quyết chúng thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài đề xuất đối tượng và phạm vi nghiên cứu của 25 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2022, sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết dựa trên các bài nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước và phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định lại và mở rộng các nghiên cứu trước đây nhằm cập nhật tác động của các yếu tố có thể thay đổi linh động theo thời gian. Cuối cùng, chương này sẽ giới thiệu cấu trúc toàn văn được chia thành 5 chương và tóm tắt nội dung chính của từng chương.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm thanh khoản “Tính thanh khoản (Liquidity), thể hiện khả năng cơ động của ngẫu nhiên một tài sản được thực hiện trên thị trường cũng như trong nền kinh tế và khi đó giá trị của tài sản này không bị tác động nhiều” (Goyenko và cộng sự 2009) “Thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định” (Duttweiler 2011) Theo Ivanov (2010), khái niệm về thanh khoản có thể thay đổi tùy thuộc vào các bối cảnh khác nhau, bao gồm mức độ thanh khoản của một sản phẩm trên thị trường tài chính, thanh khoản của một doanh nghiệp, một ngân hàng, hoặc thậm chí là thanh khoản của toàn bộ hệ thống tài chính. Theo Điều 4 của Luật về Tổ chức Tín dụng (Luật số 47/2010/QH12), ngân hàng thương mại được phép thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và kinh doanh khác theo quy định của Luật này với mục đích thu lợi nhuận. ngân hàng thương mại cổ phần là một ngân hàng thương mại tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Theo Luật này, hoạt động ngân hàng là kinh doanh dịch vụ tài chính và ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cung cấp dịch vụ tín dụng và thanh toán qua tài khoản.
Theo Trương Quang Thông (2013), thanh khoản được định nghĩa như khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng, với chi phí thấp nhất có thể. Từ cả hai góc độ tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản được xem như khả năng tiếp cận tài sản và nguồn vốn với chi phí hợp lý để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của ngân hàng. Tài sản được coi là có tính thanh khoản cao khi có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng và chi phí chuyển đổi thấp. Ngược lại, nguồn vốn được xem là có tính thanh khoản cao khi thời gian huy động nhanh và chi phí huy động thấp.
8 Khái niệm "Liquidity gap" xuất hiện đầu tiên trong "Risk Management in Banking" của J. Bessis (2011), được đánh giá qua sự chênh lệch giữa tài sản và nghĩa vụ ở cả hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là thu thập dữ liệu khó khăn do ít ngân hàng công bố báo cáo hàng năm về "liquidity gap," làm mất cân bằng mạnh và khó khăn trong việc ước lượng. Theo Cơ quan Dự trữ Liên bang, ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, khái niệm thanh khoản đề cập đến lượng tiền mặt và tài sản khác mà ngân hàng có sẵn để thanh toán hóa đơn và đáp ứng các nghĩa vụ thương mại và tài chính ngắn hạn một cách kịp thời.
Hơn nữa, các tài sản như dự trữ của ngân hàng trung ương và trái phiếu chính phủ có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt khi các nghĩa vụ tài chính được yêu cầu được gọi là tài sản lưu động. Để duy trì hoạt động, một tổ chức tài chính cần có đủ tài sản lưu động để đối phó với rút tiền của người gửi và các nghĩa vụ ngắn hạn khác. Từ góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng tài sản được chuyển đổi thành tiền mặt và ngược lại. Một tài sản được coi là thanh khoản khi nó đáp ứng các tiêu chí sau: Tính sẵn có của số lượng để mua hoặc bán, tính sẵn có của thị trường để giao dịch, khả năng có thời gian giao dịch và giá cả hợp lý.
Theo định nghĩa của Basel, thanh khoản là cụm từ chuyên ngành kỹ thuật đề cập đến khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn sẵn có, phục vụ hoạt động kinh doanh mọi lúc, như thanh toán tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn. Chuẩn Basel quan trọng để đảm bảo rằng các tổ chức tài chính duy trì một mức độ thanh khoản an toàn, từ đó giảm thiểu rủi ro liên quan đến sự thiếu hụt vốn và đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu. Basel đề cập đến các khái niệm khác nhau về thanh khoản tại các thời điểm khác nhau, tuy nhiên, tổng quan , nó chỉ đơn giản là khả năng của tổ chức tài chính để tăng cường tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đúng hạn mà không tạo ra chi phí không hợp lý. 9 Trên thực tế, các tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm các loại giấy tờ có giá trị như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, hối phiếu., và các tài sản có tính thanh khoản thấp như bất động sản, máy móc, thiết bị hoặc dây chuyền sản xuất.
Đơn giản hơn còn được định nghĩa là các đại lý có thể trao đổi cổ phiếu (mua và bán) một cách nhanh chóng thành tiền mặt. Các loại cổ phiếu khó và dễ được phân loại theo thứ tự là kém thanh khoản và thanh khoản (Bali et al., 2014) Alshatti (2015) “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng nhu cầu kịp thời khi phát sinh ra nghĩa vụ tài chính” Mang vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của ngân hàng, trọng trách giữ vững sự ổn định của thị trường và nền kinh tế, nâng cao hiệu quả trong kinh doanh, giảm thiểu rủi ro phá sản dẫn đến hiệu ứng domino sụp đổ của hệ thống ngân hàng, gia tăng niềm tin vững chắc cho khách hàng và nâng cao vị thế trong thị trường.2 Thanh khoản ngân hàng Đứng dưới góc độ các ngân hàng, thanh khoản là chìa khóa cung cấp kịp thời và đầy đủ những nghĩa vụ tài chính sẽ phát sinh hoặc xảy ra trong quá trình trao đổi và hoạt động (trả lãi tiền huy động, cho các chủ thể vay vốn, thanh toán quốc tế…). Theo Basel (2008), định nghĩa về thanh khoản ngân hàng như sau: "Thanh khoản ngân hàng là khả năng của một ngân hàng vừa tăng tài sản vừa đáp ứng nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức". Khi một ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ của mình, chẳng hạn như giải ngân các khoản vay, trả tiền gửi khi đáo hạn hoặc thanh toán và giao dịch tài chính hoàn toàn và đúng hạn, điều đó có nghĩa là ngân hàng mất khả năng thanh khoản "(Bessis, 2012).
Dựa trên các định nghĩa đã được trình bày, tác giả có thể tóm tắt khái niệm thanh khoản ngân hàng như sau: Đây là khả năng của ngân hàng để hiển thị đầy đủ và kịp thời các cam kết đã đưa ra, bao gồm việc trả tiền gửi đúng hạn, giải ngân khoản vay, thực hiện thanh toán và giao dịch tài chính một cách linh hoạt và nhanh chóng, đồng thời duy trì chi phí thấp và hợp lý nhằm tránh rủi ro gây mất khả năng thanh toán của ngân hàng. 10 Khi tài sản của ngân hàng bị chậm trễ trong việc thanh lý hoặc quy đổi thành tiền để giải quyết các vấn đề phát sinh như thanh toán, cho vay., thì điều đó có nghĩa là ngân hàng đang thiếu đi khả năng thanh khoản. Vấn đề vỡ nợ là vấn đề sớm muộn sẽ xảy ra nếu như ngân hàng không có khả năng giả quyết hoặc không đưa ra những phương pháp phù hợp, điều này dẫn đến rủi ro ngân hàng bị phá sản. Tóm lại, tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại là trong tầm kiểm soát mà thực hiện một cách nhanh chóng khi nghĩa vụ thanh toán phát sinh.Điều đó thể hiện sức huy động nguồn vốn luôn ổn định và đầy đủ và tạo ra giá trị tốt trong mắt khách hàng, nâng cao niềm tin, uy tín trên thị trường tài chính.Vì lẻ đó, các ngân hàng phải luôn có nguồn tiền thanh khoản để đáp ứng cho khách hàn.
Nếu ngân hàng không có nguồn tiền thanh khoản ổn định để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng thì dễ dàng mất khả năng thanh khoản và dẫn đến mất đi sự tin cậy đến từ khách hàng là một vấn đề nghiêm trọng.2 Phương pháp đo lường thanh khoản Vodova (2011) đã đề xuất hai phương pháp chính để đo lường tính thanh khoản của ngân hàng, bao gồm phương pháp đo lường bằng khoảng cách thanh khoản và phương pháp đo lường bằng tỷ lệ thanh khoản. Phương pháp đo lường chênh lệch thanh khoản tập trung vào việc đo lường sự khác biệt giữa vốn và tài sản của ngân hàng ở hiện tại và trong tương lai. Ngược lại, phương pháp tỷ lệ thanh khoản là quá trình tính toán các tỷ lệ khác nhau, được thu thập từ dữ liệu bảng cân đối kế toán, từ đó có thể dự đoán biến động của chỉ số thanh khoản trong thời gian. Cả hai phương pháp này đều mang lại cái nhìn chi tiết và đa chiều về khía cạnh thanh khoản của ngân hàng, hỗ trợ trong việc đánh giá và quản lý rủi ro liên quan đến thanh khoản.1 Phương pháp đo đạc về sự chênh lệch cung cầu thanh khoản Khoảng cách thanh khoản là chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng vốn huy động bình quân.
Khoảng cách thanh khoản đại diện cho một dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. 11 Khe hở thanh khoản = Tổng dư nợ cho vay bình quân – Tổng vốn huy động bình quân Giả sử khoảng cách thanh khoản là dương và có giá trị rất lớn. Trong tình huống đó, ngân hàng sẽ phải thực hiện các biện pháp như giảm dự trữ tiền mặt, cắt giảm tài sản lưu động hoặc tăng mức vay trên thị trường tiền tệ, điều này có thể dẫn đến tăng rủi ro về thanh khoản của ngân hàng (Đặng Văn Dân, 2015).