Chương 1: giới thiệu tổng quan về luận văn, nội dung chương này thể hiện khái quát về đề tài bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu trình bày đề tài và tóm lược các nghiên cứu trước. Chương 2: tác giả khái quát hóa cơ sở lí thuyết về khả năng thanh khoản của NHTM và các nghiên cứu trước đó. Đây là nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3: trình bày mô hình dự kiến và giải thích các biến được sử dụng trong mô hình và cách thức kiểm định giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: tác giả đi sâu phân tích kết quả nghiên cứu thể hiện sự tác động của Luận văn thạc sĩ Kinh tế các biến đến thanh khoản. Đây là cơ sở để đưa ra các gợi ý chính sách giúp nâng cao khả năng thanh khoản tại các NHTMCP Việt Nam. Chương 5: dựa trên những kết quả nghiên cứu đã đạt được tác giả đưa ra những gợi ý chính sách giúp nâng cao khả năng thanh khoản tại các NHTMCP Việt Nam. Đóng góp của đề tài Đề tài có đóng góp về mặt thực tiễn, góp phần tìm ra những yếu tố tác động đến thanh khoản tại các NHTMCP tại Việt Nam.
Qua đó bổ sung thêm cơ sở khoa học giúp các ngân hàng hoạch định những chính sách phù hợp nhằm nâng cao tính thanh khoản, củng cố hoạt động kinh doanh. Các khái niệm cơ bản Thanh khoản của ngân hàng thương mại “Tính thanh khoản, một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng nhiều đến giá thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể”, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn (Keynes, 1930). Ví dụ, tiền mặt có tính thanh khoản cao, vì nó thường có thể được “bán” (để đổi lấy hàng hóa) với giá trị gần như không thay đổi.
Chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu. có tính thanh khoản cao nếu chúng khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng. Cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là tính lỏng, tính lưu động. Như vậy, tính thanh khoản chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó.
Luận văn thạc sĩ Kinh tế Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán của nó không giảm đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) (Basel Committee on Bank Supervision, 2008), “thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Vai trò cơ bản của ngân hàng trong việc chuyển hóa kỳ hạn của các khoản ký thác ngắn hạn sang các khoản cho vay dài hạn làm cho ngân hàng thường xuyên trong tình trạng dễ bị tổn thương trước rủi ro thanh khoản, về bản chất thể chế đặc thù và cả đối với thị trường với tư cách là một tổng thể.
Theo Trương Quang Thông (2010): “một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi tài sản ấy thành tiền mặt thấp và thời gian chuyển đổi nhanh. Tương tự, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp cùng với thời gian huy động nhanh”. 8 Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Cho tới nay, nghiên cứu của một số tác giả như Aspachs và cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008), Vodova (2011) đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản như sau: - Chỉ số tài sản thanh khoản / tổng tài sản Một tỷ lệ tiền mặt càng cao càng đảm bảo cho ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời, nhờ đó mà rủi ro thanh khoản càng thấp.
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng hấp thụ các cú sốc thanh khoản càng lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ này quá cao sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống. Tài sản thanh khoản bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tại quỹ; tiền gửi tại NHNN; tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác. - Chỉ số tài sản thanh khoản / tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn Luận Chỉ số này chovăn thạc biết khả năng đáp ứng sĩ nghĩa Kinh tếngân hàng.
Tỷ lệ vụ đến hạn của này tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng với nguồn vốn huy động được. Tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn gồm các khoản nợ Chính phủ và NHNN; tiền gửi và vay của các TCTD khác; tiền gửi khách hàng. Chỉ số này càng cao cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao. - Chỉ số cho vay / tổng tài sản Chỉ số này cho biết tỷ lệ tài sản của ngân hàng tài trợ cho các khoản cho vay của ngân hàng.
Cho vay được lấy từ cho vay và ứng trước khách hàng. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng cho vay càng nhiều, tài sản kém thanh khoản càng lớn dẫn đến tài sản thanh khoản của ngân hàng càng giảm dần. - Chỉ số cho vay / tổng vốn huy động ngắn hạn Chỉ số này cho thấy mối quan hệ giữa khoản cho vay và khoản nợ có tính thanh khoản của ngân hàng. Khoản mục huy động ngắn hạn gồm các khoản nợ Chính phủ và NHNN; tiền gửi và vay các TCTD khác; tiền gửi của khách hàng.
Chỉ số này 9 phản ánh số cho vay lớn gấp bao nhiêu lần số tiền huy động được. Tỷ lệ này càng cao thì thanh khoản của ngân hàng càng kém. Trong 4 cách đo lường trên, tỷ lệ khoản cho vay trên tổng tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn là chỉ số đánh giá khả năng của ngân hàng trong việc phân bổ nguồn thanh khoản vào hoạt động cho vay. Nếu tỷ lệ này cao cho thấy khả năng thanh khoản ngân hàng thấp; ngược lại, tỷ lệ này quá thấp thể hiện ngân hàng có thể chưa tận dụng hết nguồn vốn, hiệu quả sử dụng vốn không cao.
Vì vậy, việc quản trị, cơ cấu nguồn thanh khoản của ngân hàng rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu này tác giả sử dụng cách đo lường Chỉ số cho vay / tổng vốn huy động ngắn hạn để đo lường khả năng thanh khoản của các NHTMCP VN. Đây cũng là cách đo lường thanh khoản phổ biến nhất hiện nay. Một số nghiên cứu đã sử dụng cách đo lường này để làm biến phụ thuộc như nghiên cứu của Vodova (2013), Vũ Thị Hồng (2015).
Các yếu tố tác động đến thanh khoản 2. Nguyên nhân bên trong ngân hàng Luận văn thạc sĩ Kinh tế Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cho thấy tình trạng đủ vốn cũng như sự an toàn và lành mạnh của một ngân hàng. Tỷ lệ này thấp chứng tỏ ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao, điều này chứa đựng rất nhiều rủi ro và có thể làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm khi chi phí vốn vay cao. Các nghiên cứu của các tác giả Bunda và Desquilbet (2003), Vodova (2011), Indriani (2004), Aspachs et al.
(2005) cho thấy kết quả tác động cùng chiều của tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đến khả năng thanh khoản. Ngược lại, các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh (2016), Trương Quang Thông và Phạm Minh Tiến (2014) lại cho thấy tương quan âm giữa tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đến khả năng thanh khoản. Các tác giả giải thích rằng các NHTMCP với uy tín, thương hiệu tốt trên thị trường cùng với nguồn vốn chủ sở hữu tốt tạo được niềm tin từ phía khách hàng, từ đó có thể giảm chi phí huy động, tạo nguồn cung thanh khoản. Vì thế các ngân hàng có thể đẩy mạnh nguồn vốn kinh doanh mà giảm phần dự trữ các tài sản thanh khoản, tuy nhiên điều này lại làm tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cao.
Trong khi đó, các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu 10 thấp buộc phải duy trì một tỷ lệ thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán vì thế ít rủi ro hơn. Lợi nhuận ngân hàng (ROA) Một số chỉ số tài chính thể hiện lợi nhuận của ngân hàng sử dụng trong các nghiên cứu trước đây như: ROA - khả năng sinh lợi trên tổng tài sản, ROE - khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, NIM - tỷ lệ thu nhập lãi cận biên…Trong luận văn này tác giả sử dụng ROA là chỉ số đại diện cho lợi nhuận ngân hàng vì chỉ số này cho thấy được khả năng tạo ra lợi nhuận ngân hàng trên tổng thể các nguồn vốn, không phân biệt nguồn vốn nào nên có cái nhìn toàn diện hơn. Bên cạnh đó, dựa trên ROA có thể so sánh hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng có cùng độ rủi ro, vì chỉ số này loại trừ sự khác biệt về chính sách thuế cũng như đòn bẩy tài chính mà ngân hàng đang sử dụng Kupiec và Lee (2012). Theo Hassan et al.
(2003) cho rằng, ROA vừa chịu tác động của hiệu quả tiết kiệm chi phí, vừa chịu tác động của hiệu quả sử dụng tài sản, thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và quan trọng hơn là Luận văn thạc sĩ Kinh tế thể hiện khả năng của nhà quản trị trong việc sử dụng các nguồn tài chính và đầu tư để sinh lợi. Lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu được tạo ra từ hoạt động kinh doanh truyền thống, tức là chênh lệch lãi suất giữa cho vay và huy động vốn. Do vậy, ngân hàng càng nắm giữ nhiều tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thì khả năng tạo ra lợi nhuận càng thấp và ngược lại (Aspachs et al.