CHƯƠNG 1 Chương một trình bày lý do và tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài; xác định mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; đồng thời trình bày ý nghĩa của đề tài mà mình thực hiện. Cuối cùng là tóm tắt bố cục dự kiến của khóa luận. Đây là cơ sở trình bày các nội dung tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 2. Khái niệm khả năng thanh khoản Theo Basel (2000) KNTK của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Cũng Theo Basel (2008) thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được. Ở những giai đoạn khác nhau, Basel cũng có các định nghĩa và khái niệm khác nhau về thanh khoản và việc sử dụng quỹ tài sản nhằm thanh toán những nghĩa vụ đến hạn với chi phí chấp nhận được.
Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó thành tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể. Hiểu một cách đầy đủ hơn, dựa vào cách tiếp cận tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với mức chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng theo Trương Quang Thông (2012). Alshatti (2015) cho rằng thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn. Tóm lại, khả năng thanh khoản trong NHTM đề cập đến khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất.
Điều này liên quan đến cách tiếp cận tài sản và vốn, với mục tiêu hỗ trợ các hoạt động đa dạng của ngân hàng với chi phí hợp lý. Thanh khoản chính là khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ tài chính khi đến hạn của ngân hàng. Cung - cầu thanh khoản, trạng thái thanh khoản Theo Peter S. Rose (2001), trong lĩnh vực ngân hàng cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hang, cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau.1: Cung - cầu thanh khoản Nguồn cung thanh khoản Nguồn cầu thanh khoản Cổ tức thanh toán bằng tiền Vay từ thị trường tiền tệ Khách hàng rút tiền từ tài khoản thanh Doanh thu từ bán các dịch vụ phi tiền gửi toán Tiền gửi từ khách hàng Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi Thanh toán nợ từ khách hàng Cho vay khách hàng Bán tài sản Chi phí trong quá trình cung cấp dịch vụ và sản xuất.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Trạng thái thanh khoản của ngân hàng được xác định bởi các yếu tố trên từ nguồn cung- cầu thanh khoản. Bảng Cung và Cầu Thanh khoản cho phép tính toán trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng trong mỗi thời kỳ. Trạng thái thanh khoản ròng (NPL) là hiệu số giữ tổng cung - tổng cầu thanh khoản theo công thức: 𝐍𝐏𝐋 = 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐜𝐮𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 − 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐜ầ𝐮 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 (2.1) Trạng thái thanh khoản ròng có 3 trường hợp xảy ra: thặng dư thanh khoản, thâm hụt thanh khoản và cân bằng thanh khoản. Trạng thái thặng dư thanh khoản (NPL > 0): tổng cung > tổng cầu thanh khoản, tức là nguồn cung thanh khoản bị dư thừa mà không được sử dụng hết, xảy ra trong trường hợp nền kinh tế kém hiệu quả nên khoản tiền thặng dư này cần được đầu tư để sinh lãi.
Trạng thái thâm hụt thanh khoản (NPL < 0): tổng cung thanh khoản bé hơn tổng cầu thanh khoản, tức là ngân hàng đang đối mặt với khó khăn về tài chính. Nhà quản lý nên áp dụng các biện pháp như sử dụng nguồn dự trữ bắt buộc dôi ra; bán các nguồn dự trữ thứ cấp; vay liên ngân hang. 9 Trạng thái cân bằng thanh khoản (NPL = 0): là trường hợp cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản, đây là trạng thái hoàn hảo mà gần như các ngân hàng đều muốn đạt được. Tuy nhiên điều trong thực tế gần như khó xảy ra trạng thái này.
Khả năng thanh khoản của Ngân hàng 2. Phương pháp đo lường tỉ lệ thanh khoản của Ngân hàng Theo các nghiên cứu trên thế giới trước đây, "KNTK được đo lường bằng phương pháp chỉ số thanh toán đã được nhiều tác giả áp dụng nghiên cứu". Một số nghiên cứu như Aspachs và cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Pra t và Herberg (2005) đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản sau: 𝐓à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐋𝟏 = (2.2) 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tỷ số trạng thái tiền mặt (L1): Tỷ số này càng lớn thì ngân hàng có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và dễ dàng, giúp đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động hằng ngày của ngân hàng. Đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả năng thanh khoản cao và có khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền, trả lãi suất và các yêu cầu tài chính khác của khách hàng một cách linh hoạt.3) Tỷ số cơ cấu tiền gửi (L2): Tỷ số này cho thấy sự ổn định của tiền gửi của một ngân hàng với chính NH đó và các TCTD khác.
Tuy nhiên, đây là tỷ lệ nhấn mạnh mức độ nhạy cảm của NH trong trường hợp phân loại tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính hay hộ gia đình. Tương tự như L1, tỷ số này cao thì thanh khoản của ngân hàng là tốt.4) 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tỷ số năng lực cho vay (L3): Tỷ số này cho thấy lượng phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản NH. Tỷ lệ này càng cao thì KNTK của ngân hàng càng yếu.5) ( 𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢8 𝐍𝐠𝐮ồ𝐧 𝐯ố𝐧 𝐧𝐠ắ𝐧 𝐡ạ𝐧) Tỷ số dư nợ trên tiền gửi khách hàng (L4): Tỷ số này cho biết bao nhiêu phần trăm tiền gửi của ngân hàng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tín dụng. Tuy nhiên, dư nợ cho vay lớn dẫn đến lợi nhuận cao và chủ yếu là cho các ngân hàng, vì vậy tỷ lệ này cao hơn cho thấy tính thanh khoản thấp hơn nhưng lợi nhuận cao hơn.
Phương pháp đo lường khe hở thanh khoản của Ngân hàng Khoản chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng nguồn vốn huy động bình quân là khe hở thanh khoản. Điều này báo động về rủi ro thanh khoản trong tương lai. Phương pháp này đo lường sự chênh lệch giữa nguồn vốn và tài sản ở thời điểm hiện tại và tương lai (Vodová, 2011). Khe hở tài trợ (FGAP) đo lường mức độ rủi ro thanh khoản của ngân hàng thông qua được tính bằng công thức: (𝐃ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧 − 𝐒ố 𝐝ư 𝐭𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧) 𝐅𝐆𝐀𝐏 = (2.6) 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 FGAP > 0: nghĩa là khe hở tài trợ ngân hàng lớn, nguồn vốn huy động từ tiền gửi sử dụng cho các khoản cho vay là không đủ dẫn đến có thể gặp rủi ro thanh khoản.
Vì thế cần phải giảm tỉ lệ tiền mặt dự trữ, tài trợ của NH cho các khoản vay bằng nguồn khác như vốn tự có. FGAP < 0: cho thấy ngân hàng còn dư một khoản tiền huy động chưa sử dụng, ngân hàng có thể có thể xem xét sử dụng để đầu tư hoặc mua lại chứng khoán đã phát hành. Các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNTK của các ngân hàng tham khảo từ các nguồn trong nước và quốc tế. Các nhân tố này đã được phân loại thành hai nhóm chính, gồm nhân tố nội tại và vĩ mô.
Các yếu tố nội tại của ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản Quy mô ngân hàng: Theo Rauch (2009), "quy mô ngân hàng là tổng tài sản mà một ngân hàng sở hữu". Theo Comett & ctg (2011), "quy mô ngân hàng là tổng tài sản hoặc tổng tài sản rồng được dùng để diễn tả quy mô vốn của ngân hàng. Quy mô ngân hàng được đo lường bằng Logarit của tổng tài sản ngân hàng. Một ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn và tăng trưởng ổn định thưởng thể hiện khả năng huy động vốn, năng lực cho vay và KNTK cho khách hàng tốt".
Nghiên cứu của Akhtar và cộng sự (2011), họ đã tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều mạnh mẽ giữa KNTK và quy mô của ngân hàng nên khi tổng tài sản của một ngân hàng tăng lên thì KNTK của ngân hàng đó cũng tăng theo. Tức là, khi một ngân hàng có lượng lớn tổng tài sản thì khả năng của nó để chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng và hiệu quả cũng sẽ cao hơn. Quy mô vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, được tính bằng cách chia vốn chủ sở hữu cho tổng tài sản. Tỷ lệ này thể hiện khả năng của ngân hàng để đáp ứng các yêu cầu vốn và tạo ra một môi trường tài chính ổn định và lành mạnh.
Nếu tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp, điều này cho thấy ngân hàng đang sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy cao đi kèm với nhiều rủi ro và có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Hiệu quả sử dụng tài sản, được đo bằng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của, cho thấy hiệu quả quản lý tài sản của ngân hàng. Một ngân hàng có chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản cao và ổn định thể hiện khả năng điều hành hoạt động kinh doanh kết hợp với công tác quản trị rủi ro tại ngân hàng, trong đó có quản trị rủi ro thanh khoản Chỉ số này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước đây, như Akhtar và cộng sự (2011) và Singh và Sharma (2016), và đã tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa chỉ số này và KNTK của 12 ngân hàng.
Tuy nhiên, Moussa (2015) lại tìm thấy một mối quan hệ âm giữa chỉ số này và KNTK. Tỷ suất sinh lời trên tài sản bình quân: Hiệu quả sử dụng tài sản hay suất sinh lời trên tổng tài sản ngân hàng (ROA) thể hiện hiệu suất quản lý tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản tốt cho thấy tình hình điều hành kinh doanh kết hợp quản trị ổn định. Chỉ tiêu này đã được đưa vào sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm trước đây như: Akhtar và cộng sự (2011), Singh và Sharmar (2016) đều tìm thấy có mối quan hệ đồng biến của KNTK của ngân hàng và chỉ số này.