Chương 1- Tổng quan sẽ giới thiệu lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; phương pháp, phạm vi, đối tượng nghiên cứu; ý nghĩa của đề tài. Chương 2- Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ giới thiệu các lý thuyết, các nghiên cứu trước trên thế giới làm nền tảng cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm. Chương này cũng giới thiệu các đặc tính của ngành công nghệ phần mềm và giới thiệu mô hình nghiên cứu. Chương 3- Phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định thang đo nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu.
Chương 4- Phân tích kết quả nghiên cứu sẽ trình bày thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá kết quả có được. Chương 5- Kết luận và kiến nghị sẽ trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu có được và đưa ra các hàm ý ứng dụng thực tiễn, đồng thời đưa ra các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các bước tiếp theo để hoàn thiện nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ giải thích một số các khái niệm cơ bản về nhóm, phân loại nhóm, đặc điểm nhóm làm việc hiệu quả, khái quát một số nghiên cứu trước về hiệu quả làm việc nhóm, đặc điểm của ngành công nghệ phần mềm. Cuối cùng là đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm nhóm làm việc (teamwork) Katzenbach J.
(1993) định nghĩa “Nhóm làm việc là một số người có kỹ năng bổ sung cho nhau, cam kết làm việc cùng mục đích chung, cùng mục tiêu chung về hiệu quả công việc và có trách nhiệm với nhau”. Còn Francis & Young (1979) mô tả nhóm làm việc là “một nhóm người đầy năng lượng cam kết đạt được mục tiêu chung, làm việc cùng nhau và đạt được hiệu quả công việc cao”. (1986) thì nhấn mạnh vào mối quan hệ: “một nhóm làm việc là một tập hợp các mối quan hệ giữa người với người được được thiết lập để đạt được mục tiêu chung”. Trong khi đó Lanza (1985) mô tả nhóm là một tập hợp những người làm việc cùng nhau mà thành công của một cá nhân luôn phụ thuộc vào thành công của toàn bộ nhóm.
Hackman (1998) định nghĩa nhóm là tập hợp những thành viên có cùng mục đích chung, thực hiện nhiệm vụ với trách nhiệm chung. Paris CR, Salas E. & Cannon-Bowers (2000) đưa ra đặc trưng của nhóm bao gồm: cùng nguồn thông tin, nhiệm vụ phụ thuộc nhau, sự tương tác giữa các thành viên, có mục đích và giá trị chung, có vai trò phân biệt và trách nhiệm chung, có cùng hiểu biết, giao tiếp chuyên sâu và có khả năng thích ứng với sự thay đổi. Larson & LaFasto (1989) định nghĩa “nhóm gồm 2 người trở lên cùng thực hiện một mục tiêu cụ thể hoặc cùng nhận biết mục tiêu thông qua hoạt động phối hợp giữa các thành viên”.
9 Như vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về làm việc nhóm nhưng đều hội tụ vào những điểm chung như: làm việc nhóm là bao gồm một nhóm người làm việc cùng nhau, hướng mục đích chung, có cùng mục tiêu chung, nhiệm vụ phụ thuộc nhau, sự phối hợp với nhau trong công việc.2 Phân loại nhóm làm việc Các nghiên cứu về nhóm đã chỉ ra rằng có nhiều loại nhóm như nhóm hỗ trợ, nhóm quản lý, nhóm dự án, nhóm phát triển sản phẩm mới, nhóm tự quản, tổ bay, nhóm ảo. Tuy nhiên dựa trên một số tính chất chung có thể phân loại nhóm làm việc như sau: - Hackman (1998) phân thành 7 loại theo tính chất công việc: nhóm quản lý cấp cao (top managerment groups), nhóm đặc nhiệm (task force team), nhóm hỗ trợ chuyên nghiệp (professional support teams), nhóm chuyên thực thi (performing groups), nhóm dịch vụ nhân lực (human service teams), nhóm dịch vụ khách hàng (customer service teams) và nhóm sản xuất (production teams). - Katzenbach and Smith (1993) lại phân loại theo chức năng: nhóm chuyên đề xuất (recommend things), nhóm chuyên hoạt động dịch vụ (make or do things) và nhóm chuyên thực thi (run things). Các tác giả này cũng phân loại nhóm theo vòng đời của nhóm.
Nhóm chuyên đề xuất bao gồm những loại như nhóm dự án (project group), nhóm đặc nhiệm (task forces), nhóm chuyên giải quyết vấn đề (problem solving teams). - Mohrman & cộng sự (1995) phân loại theo mục đích của nhóm, bao gồm: các nhóm làm việc (work teams), nhóm tích hợp (integrating teams), nhóm quản lý (management teams), và nhóm cải tiến (improvement teams).3 Lợi ích của làm việc nhóm hiệu quả (team benefits) Theo Arajs (1991) cho rằng nhóm làm việc hiệu quả là nền tảng của một tổ chức hoạt động hiệu quả, đó chính là lợi ích thuyết phục nhất cho việc phát triển nhóm. Thật vậy, có nhiều nghiên cứu về lợi ích của làm việc nhóm trong tổ chức, các tác giả cho rằng làm việc nhóm có thể “tránh trùng lắp, gia tăng sự hợp tác, thúc đẩy phát triển ý tưởng mới, duy trì động lực, giúp mọi người giải quyết vấn đề, gia tăng chất lượng sản phẩm và dĩ nhiên là tăng lợi nhuận”. George (1977) đề cập đến sản xuất và lợi nhuận gia tăng và nhiều lợi ích cho nhân viên, trong khi Timmons (1979) đề cập đến những bằng chứng hiển nhiên rằng nhóm chính là chìa khóa tăng trưởng.
Các công ty kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ có lãnh đạo theo nhóm thường thành công hơn các công ty chỉ có một sáng lập viên duy nhất. Staff (1990) trong một bài báo trên trang The Economist cho rằng “Một tập thể lãnh đạo thành công sẽ bền vững hơn một tập hợp các lãnh đạo nhìn xa trông rộng ngồi cạnh nhau”. Greco (1988) cho rằng làm việc nhóm giúp các công ty vượt qua khủng hoảng tốt hơn bởi vì các thành viên sẽ nỗ lực hơn mà không đòi hỏi thêm lợi ích gì. Điều này hoàn toàn có thể vì sự cam kết nỗ lực của các thành viên sẽ thành nỗ lực chung của nhóm và cả công ty.
Các nghiên cứu của Margerison M. (1989) cho rằng làm việc nhóm giúp cải thiện năng suất, sự cam kết, kết quả đầu ra, sự hợp tác và sự sáng tạo. Ngoài những lợi ích đề cập ở trên, Johnson (1986) còn tập trung vào lợi ích từ việc phát triển nhóm làm việc và chỉ ra cách làm thế nào để kết nối các thành viên trong nhóm. Đó là cải thiện cách mọi người tương tác với nhau, từ đó khả năng giải quyết vấn đề của nhóm trở nên tốt hơn dẫn đến thúc đẩy tinh thần đồng đội và nâng cao năng suất.
Tất cả những yếu tố đó sẽ cải thiện hình ảnh của tổ chức tốt hơn. 11 Trong nghiên cứu của Wynn R. (1984) đã chỉ ra nhiều ưu điểm của làm việc nhóm. Nhóm làm việc hiệu quả sẽ cung cấp một môi trường tốt nhất có thể cho sự phát triển của các thành viên, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và cải thiện mối quan hệ xã hội.
Nghiên cứu của Hitt M.A & Miller C (2010) lại tập trung vào vai trò của trưởng nhóm, họ cho rằng trưởng nhóm sẽ cải thiện khả năng thông tin, sử dụng tốt hơn nguồn nhân lực, sáng tạo hơn, phát triển kỹ năng lãnh đạo và gia tăng sự hài lòng trong công việc. Tuy nhiên, những lợi ích do làm việc nhóm nêu trên không đến ngay lập tức. (1984) có thể sẽ mất một thời gian thì nhóm mới cảm nhận được sự tác động tích cực của tinh thần đồng đội. Theo nghiên cứu của tác giả thì mất khoảng một năm để kết quả tích cực của làm việc nhóm mới được sự công nhận rộng rãi trong tổ chức.
Như vậy, rõ ràng, làm việc nhóm không dành cho những ai tìm kiếm lợi ích tức thì. Tóm lại, việc phát triển làm việc theo nhóm có thể cung cấp cho tổ chức và những cá nhân có liên quan những lợi ích sau đây: Giảm lãng phí công lao động. Gia tăng sự hợp tác. Phát triển nhiều ý tưởng mới.
Ra quyết định khôn ngoan và sáng suốt hơn. Thúc đẩy sự năng động của các thành viên. Cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ. Gia tăng năng suất và lợi nhuận.
Đáp ứng tốt sự biến động của môi trường. Giảm thiểu sự xung đột. Gia tăng cam kết thực hiện công việc. Cải thiện mối quan hệ giữa các thành viên, các phòng ban và cộng đồng.
Như vậy, những lợi ích quan trọng của nhóm đều tập trung vào sự hài lòng của các thành viên và hiệu suất.4 Hiệu quả làm việc nhóm (team effectiveness) 2.1 Hiệu quả “Hiệu quả” theo định nghĩa của từ điển Oxford là khả năng tạo ra một kết quả mong muốn. Khi một điều gì đó được xem là hiệu quả có nghĩa là điều đó phải đạt được kết quả mong đợi hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sống động. Như vậy, để xác định một điều gì đó có hiệu quả hay không, ta phải đo lường được bằng một tiêu chuẩn cho trước.2 Hiệu quả làm việc nhóm McGrath (1964) đưa ra định nghĩa đầu tiên về hiệu quả làm việc nhóm bao gồm hai thành phần. Ông định nghĩa hiệu quả là sự kết hợp của hiệu quả hoạt động đo lường được (bao gồm: chất lượng, tốc độ và lỗi) và yếu tố khác khó đo lường hơn (sự hài lòng, sự gắn kết, thái độ, cơ cấu, đo lường xã hội).
Khái niệm gồm hai thành phần này sau đó được kế thừa rộng rãi trong các nghiên cứu sau đó (Campion và cộng sự, 1996; Goodman, Ravlin & Argote, 1986; Van Der Vegt và cộng sự, 1998).G (1975) mở rộng ra thành ba thành phần: Mức độ sản phẩm đầu ra của nhóm đáp ứng các tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng, thời gian đáp ứng do người sửa dụng sản phẩm đó đánh giá. Mức độ đóng góp kinh nghiệm góp phần vào sự tăng trưởng của nhóm và các thành viên. Khả năng sự hợp tác của nhóm trong tương lai. Nghiên cứu của Hackman & Morris (1975) cũng được lặp lại ở nhiều nghiên cứu sau này như bởi nhiều tác giả khác (Caproni, 2000; Gladstein, 1984; Guzzo & Dickson, 1996; Sundstrom & Altman, 1989).
Sundstrom và cộng sự (1990) cũng chấp nhận hiệu quả làm việc gồm ba thành phần nhưng kết hợp hai thành phần sau của Hackman & Morris (1975) thành khả năng tồn tại của nhóm (team viability). Theo Shea & Guzzo (1987), hiệu quả làm việc nhóm được đo lường tốt nhất là dựa vào sản phẩm đầu ra so với mục tiêu nhiệm vụ của nhóm.