CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được tác giả tiếp cận và sắp xếp theo trình tự thời gian công bố của từng công trình nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu nước ngoài - Nghiên cứu của Noor Azizi Ismail và Malcolm King (2007), đăng trên tạp chíJournal of Information Systems and Small Business: “Factors influencing the alignment of accounting information systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms”. Nghiên cứu sử dụng PPNC định lượng, thu thập dữ liệu tiến hành thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi, mẫu khảo sát là 219 doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ tại Malaysia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT gồm: mức độ tác động của CNTT lên quy trình vận hành doanh nghiệp, quy mô sản xuất, nhận thức của người chủ doang nghiệp về KTQT, trình độ của kế toán trong doanh nghiệp, doanh nghiệp cạnh tranh. - Luận văn của Eric Tanyi (2011) tại Hanken School of Economics, Phần Lan: “Factors influencing the use of the balanced scorecards by managers”: PPNC được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là PPNC định lượng. Tác giả đưa ra ý tưởng nghiên cứu các nhân tố tác động đên ứng dụng BSC bao gồm: những hệ thống kiểm soát được ứng dụng trong doanh nghiệp (OCS), phương thức nhà quản lý đánh giá các cấp phụ thuộc (ESM), phương thức cán bộ quản lý nhận thức các nguồn thông tin (MRI), tính dễ sử dụng (PEOU) và ảnh hưởng của sự nhận thức về tinh hữu ích (PU). Tác giả đã tiến hành khảo sát 34 cấp quản trị trong các tổ chức đang sử dụng BSC ở Phần Lan.
Kết quả nghiên cứu công bố 2 nhân tố tác ảnh hưởng đến tổ chức ứng dụng BSC là MRI và PEOU. - Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2014), đăng trên International Journal of Business Information Systems: “Factors affecting balanced scorecard usage”: Tác giả đã áp dụng PPNC định lượng với dữ liệu được thu thập thông qua 8 thực hiện việc khảo sát bằng bảng câu hỏi. Tác giả nghiên cứu sự tác động của ba nhân tố đến ứng dụng BSC bao gồm: nhận thức của cấp quản lý về tính khả thi của BSC, nhận thức của cấp quản lý về sự hữu ích của BSC và nhận thức của cấp quản lý về tính dễ sử dụng của BSC. Tác giả nhận được 71 bảng khảo sát hợp lệ từ các đối tượng khảo sát được xác định là các nhà quản lý của doanh nghiệp lớn và vừa tại Mỹ và Canada.
Kết quả nghiên cứu công bố cả ba nhân tố trên đều có tác động đến ứng dụng BSC với mức độ tác động giảm dần từ nhân tố nhận thức của cấp quản lý về tính khả thi của BSC đến nhân tố nhận thức của cấp quản lý về tính dễ sử dụng và cuối cùng là nhân tố nhận thức của cấp quản lý về sự hữu ích của BSC. - Nghiên cứu của Liu, L. (2014), đăng trên International Journal of Accounting & Information Management: “Firm characteristics and balanced scorecard usage in Singaporean manufacturing firms”. Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu các đặc trưng của doanh nghiệp việc sử dụng BSC trong các doanh nghiệp sản xuất ở Singapore.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu với số liệu được tổng hợp bằng kỹ thuật khảo sát thông qua bảng câu hỏi. Tổng số lượng mẫu khảo sát thu được là 22 phản hồi hợp lệ từ các thành viên Liên đoàn công nghiệp tại Singapore. Kết quả nghiên cứu mà tác giả nhận được cho thấy rằng việc ứng dụng BSC có tương quan thuận, đồng thời có mối tương quan đáng kể với vòng đời sản phẩm (PLC), môi trường bên ngoài và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất. Quy mô của doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có mối tương quan thuận với việc sử dụng BSC, nhưng ý nghĩa thống kê lại không tồn tại.
- Nghiên cứu của Rababa'h, A. (2014), International Review of Management and Business Research: The Implementation of Management Accounting Innovations “The Case of Balanced Scorecard Implementation within Jordanian Manufacturing Companies”: Bằng PPNC định tính, tác giả nghiên cứu xác định việc thực hiện BSC trong bối cảnh các công ty sản xuất của Jordan. Kết quả phỏng vấn bán cấu trúc cho thấy các yếu tố bao gồm hình thức, quyết định bắt buộc, sự thú vị nhất thời và hiệu quả liên quan trực tiếp đến quyết 9 định thực hiện BSC tại các công ty mục tiêu. Ngoài ra, các yếu tố vừa tạo điều kiện và khuyến khích thực hiện BSC là: sự ủng hộ của nhà quản lý, công nghệ thông tin cao hơn, toàn cầu hoá của người sử dụng, cạnh tranh ngày càng tăng.
Các kết quả từ các cuộc phỏng vấn cũng cho thấy những rào cản đối với việc thực hiện BSC là chi phí lắp đặt và duy trì hệ thống cao do thiếu thông tin để thực hiện BSC, phản đối từ người lao động, thiếu các gói phần mềm hỗ trợ BSC và có những hiểu nhầm về mối quan hệ giữa chiến lược tổ chức và BSC. - Nghiên cứu của Zahirul Hoque (2014), The British accounting review: “20 years of studies on the balanced scorecard: Trends, accomplishments, gaps and opportunities for future research”. Nghiên cứu này hệ thống lại 114 bài báo được xuất bản trong 67 bài báo và 25 tạp chí kế toán trên các tạp chí kinh doanh, quản trị trong thời gian từ năm 1992 đến năm 2011. Nghiên cứu này cung cấp tổng quan về việc thực hiện và ứng dụng BSC, phương pháp thực hiện nghiên cứu, định hướng lý thuyết và kỹ thuật trong quá trình phân tích dữ liệu.
Ngoài ra, tác giả còn rút ra bài học kinh nghiệm, phát hiện những khe hổng nghiên cứu từ những nghiên cứu trước về BSC, từ đó đề xuất một số định hướng cho các đề tài nghiên cứu tương lai. Cụ thể là: Phân tích và trình bày cách một doanh nghiệp thực hiện thành công BSC nhằm tạo cái nhìn cụ thể hơn về việc vận dụng BSC; Nghiên cứu kết hợp với so sánh về sự thất bại và thành công trong ứng dụng BSC; Sự kết hợp cả các biện pháp chủ quan và biện pháp khách quan về đo lường hiệu suất trong đánh giá hiệu quả hoạt động của BSC. - Nghiên cứu của Carol Chepng’eno Koske and Dr. Willy Muturi (2015), đăng trên Strategic Journal Of Business & Change Management: “Factors affecting application of balanced scorecard: A case study of non-governmental organizations in Eldoret, Kenya”.
Tác giả nghiên cứu những nhân tố tác động đến ứng dụng BSC trong những tổ chức phi chính phủ tại Eldoret, Kenya. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua thông qua kỹ thuật khảo sát bằng bảng câu hỏi. Mẫu khảo sát của nghiên cứu được xác định là 55 nhân viên và cán bộ quản lý công tác tại 11 tổ chức phi chính phủ. 10 Kết quả nghiên cứu tác giả công bố các nhân tố sau có ảnh hưởng đến ứng dụng BSC: chi phí tổ chức thực hiện BSC, nhận thức của cấp quản lý về tính hữu ích của BSC, quy mô của doanh nghiệp và nhận thức của cấp quản lý về tính dễ sử dụng BSC.
- Nghiên cứu của Oghuvwu, M. (2016): “Determinants of Balanced Scorecard Adoption: A Review of Perspectives”. Kiểm tra các yếu tố quyết định của việc sử dụng BSC như một thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh dựa trên việc xem xét, đánh giá các quan điểm trong các nghiên cứu trước là trọng tâm chính của nghiên cứu này. Từ cuộc khảo sát các tài liệu thực nghiệm, có thể suy ra rằng việc áp dụng BSC ở các nước đang phát triển vẫn còn ở giai đoạn phôi thai.
Dựa trên lý thuyết dự báo, nghiên cứu xác định rằng tổ chức ứng dụng BSC nhằm mục đích đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp, yếu tố thái độ, sự ủng hộ của cán bộ quản lý, văn hóa tổ chức và các yếu tố môi trường. - Nghiên cứu của Quesado, P. (2016), đăng trên tạp chíEuropean Journal of Management and Business Economics: “Extrinsic and intrinsic factors in the balanced scorecard adoption: An empirical study in Portuguese organizations”. Trong nghiên cứu này, tác giả hướng đến việc phân tích mối quan hệ giữa một tập hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức với việc chấp nhận BSC của các tổ chức tư nhân tại Bồ Đào Nha.
Phương pháp nghiên cứu định định tính và định lượng được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu với số liệu được tổng hợp thông qua kỹ thuật khảo sát bằng bảng câu hỏi được gửi qua bưu điện, thu được 155 phản hồi hợp lệ từ các tổ chức tư nhân. Kết quả cho thấy mức độ phong phú của sản phẩm/dịch vụ mà tổ chức cung cấp, quyền sở hữu của các nhóm nước ngoài và quy mô tổ chức có tương quan tích cực với việc thực hiện BSC. Gửi bảng câu hỏi khảo sát qua bưu điện chưa thật sự hiệu quả và giới hạn mẫu nhỏ không mang tính khái quát cao chính là những giới hạn còn tồn tại của nghiên cứu trên. 11 Nhận xét chung các công trình nghiên cứu nước ngoài: Trên thế giới, từ khi BSC được nghiên cứu và công bố vào năm 1992 đến nay, đã có không ít những nghiên cứu về BSC như: những khía cạnh của BSC, ứng dụng BSC để đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, những nhân tố ảnh hướng đến ứng dụng BSC trong những doanh nghiệp đa dạng về loại hình và lĩnh vực kinh doanh,….
Đồng thời, những nghiên cứu trước đây bên cạnh việc tổng kết cũng đã đo lường mức độ tác động của những nhân tố đến ứng dụng BSC dựa trên những góc độ khác nhau của nhà quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp hay của nhân viên kế toán…. Mặc dù vậy, từng tác giả chỉ đặt trọng tâm nghiên cứu vào một góc nhìn cụ thể về những nhân tố tác động đến ứng dụng BSC. Các công trình nghiên cứu trong nước - Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013) trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh: “Áp dụng bảng cân bằng điểm (BSC – Balanced Scorecard) trong các doanh nghiệp Việt Nam”.
Nghiên cứu được tác giả thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Tác giả đã khảo sát 20 doanh nghiệp chia thành 3 nhóm: chưa ứng dụng BSC, đang ứng dụng BSC và dự định ứng dụng BSC. Từ kết quả khảo sát, tác giả đã nhận diện thực trạng, những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức ứng dụng BSC của các doanh nghiệp ở Việt Nam.