Chương 1 cung cấp cái nhìn bao quát về đề tài thông qua việc trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6 Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về thị trường chứng khoán, cổ phiếu, một số lý thuyết về giá cổ phiếu và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, tác giả cũng khảo lược một số đề tài trong và ngoài nước nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, tạo tiền đề để hiện thực hóa định hướng nghiên cứu ở các chương sau. CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa trên cơ sở lý thuyết ở chương 2, chương 3 sẽ trình bày các nguồn dữ liệu, mẫu nghiên cứu và lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu để xây dựng mô hình nghiên cứu.
Sau khi mô hình nghiên cứu được xây dựng, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, thực hiện mô tả các biến được chọn và đặt ra giả thuyết nghiên cứu cho từng biến. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 4 cung cấp kết quả hồi q uy dựa trên các phương pháp nghiên cứu đã chọn và các kiểm định quan trọng, từ đó đưa ra kết quả hồi quy cuối cùng. Dựa trên kết quả hồi quy thu được, tác giả xác định các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN Dựa trên kết quả ở chương 4, tác giả đưa ra các kết luận và đề xuất một số khuyến nghị giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư khi đầu tư cổ phiếu các công ty chứng khoán.
Đồng thời, tác giả cũng nêu rõ những hạn chế của đề tài và đưa ra các hướng nghiên cứu cải thiện trong tương lai. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Cổ phiếu 2. Khái niệm Hiểu theo nghĩa chung nhất, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (Share), người mua và sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông (Shareholder), giấy chứng nhận hoặc dữ liệu điện tử xác nhận phần vốn góp của cổ đông vào công ty cổ phần được gọi là cổ phiếu (Stock). Theo luật chứng khoán năm 2019, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Đặc điểm Là một loại chứng khoán nhưng cổ phiếu có những đặc điểm riêng biệt, khác với trái phiếu và các tài sản tài chính khác. Theo tác giả Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016), cổ phiếu có những đặc điểm sau: Thứ nhất, cổ phiếu là dấu hiệu của giá trị, dấu hiệu của tài sản thực. Người sở hữu cổ phiếu là người đang sở hữu tài sản thực. Thứ hai, cổ phiếu là một chứng khoán vĩnh viễn (vô thời hạn), thời hạn của cổ phiếu gắn chặt với thời gian tồn tại của công ty phát hành ra nó.
Thời gian đáo hạn chính bằng thời hạn tồn tại của công ty. Cổ đông không có quyền yêu cầu công ty hoàn trả phần vốn góp trước thời hạn giải thể hay phá sản của công ty. Trừ trường hợp công ty chủ động mua lại cổ phiếu hoặc một số trường hợp ngoại lệ. Thứ ba, cổ phiếu là loại giấy tờ có giá có khả năng sinh lời, có tính rủi ro và có khả năng chuyển nhượng được.
Tính sinh lợi của cổ phiếu được biểu hiện qua hai khía cạnh: Thứ nhất là chênh lệnh giá mua và giá bán; thứ hai là cổ tức nhận được hàng năm, chi trả từ lợi nhuận sau thuế khi công ty làm ăn có lãi. Rủi ro của cổ phiếu được đo lường bằng mức độ biến động của tỉ suất sinh lời thực tế xoay quanh tỉ suất sinh lời kỳ vọng; nếu tỉ suất sinh lời thực tế có sự khác biệt lớn với tỉ suất sinh lời kỳ 8 vọng thì rủi ro sẽ lớn. Trong các công cụ đầu tư tài chính, cổ phiếu thuộc nhóm có rủi ro cao nhất. Phân loại cổ phiếu Một công ty cổ phần phải có cổ phiếu thường và có thể có cổ phiếu ưu đãi.
Mỗi cổ phiếu của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau. Cổ phiếu ưu đãi có khả năng được chuyển đổi thành cổ phiếu thường. Cổ phiếu thường Theo Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016) cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông. Người sở hữu cổ phiếu thường gọi là cổ đông thường.
Cổ đông là chủ sở hữu công ty. Cổ đông thường sẽ có quyền nhận phần lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty, đồng thời tham gia vào quá trình quản lý kiểm soát công ty thông qua các quyền bỏ phiếu biểu quyết và có quyền đối với tài sản còn lại khi công ty thanh lý. Giá cổ phiếu phổ thông thường biến động rất nhạy, đặc biệt là các cổ phiếu được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung. Giá cổ phiếu bị ảnh hưởng không chỉ bởi các yếu tố nội sinh của công ty mà còn chịu tác động từ các yếu tố ngoại sinh như: Lãi suất, cung tiền hay tỷ giá hối đoái.
Cổ phiếu ưu đãi Tác giả Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng cổ phiếu ưu đãi là giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường về mặt tài chính, nhưng bị hạn chế quyền hạn với công ty góp vốn. Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng được ưu tiên nhận cổ tức trước cổ phiếu thường và được nhận lại vốn trước cổ phiếu thường khi công ty thanh lý hay phá sản. Cổ phiếu ưu đãi có quyền nhận được các khoản thanh toán cổ tức định kỳ theo tỷ lệ lãi suất cố định mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và các khoản thanh toán này thường cao hơn cổ tức trả cho cổ phiếu thường. Giá cổ phiếu 2.
Mệnh giá Mệnh giá (Face value/Par value) hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty phát hành ấn định cho mỗi cổ phiếu và được ghi trên bề mặt cổ phiếu. Theo Khoản 2, Điều 13, Luật Chứng khoán năm 2019 qui định mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng là 10. Đối với các loại chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói riêng, mệnh giá không ảnh hưởng đến thị giá trên thị trường thứ cấp mà chỉ có ý nghĩa trong việc ghi nhận vốn điều lệ hoặc khi công ty lần đầu phát hành cổ phiếu thường huy động vốn hoặc cũng có thể dùng để tính toán lượng cổ tức tiền mặt mà cổ đông nhận được trên một cổ phiếu. Giá trị sổ sách Giá trị sổ sách (Book value) là giá trị của cổ phiếu được ghi nhận trên sổ sách của công ty, thể hiện tình trạng vốn chủ sở hữu của công ty tại một thời điểm nhất định.
Bodie, Kane và Marcus (2014) cho rằng giá trị sổ sách được xác định dựa trên giá trị lịch sử Tài sản và Nợ của công ty, có thể không phản ánh giá trị hiện tại của cổ phiếu. Giá trị nội tại Giá trị nội tại (Intrinsic value) còn gọi là giá trị thực hay giá trị lý thuyết của một cổ phiếu, là giá trị vốn có thuộc về bản chất của cổ phiếu đó. Giá trị vốn có của cổ phiếu được quyết định bởi các yếu tố nội sinh của công ty phát hành cũng như các yếu tố ngoại sinh thuộc về môi trường kinh tế tài chính mà công ty đó đang hoạt động. Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016) cho rằng đây là giá trị mà các nhà phân tích cơ bản hay các nhà đầu tư giá trị tìm kiếm ở một cổ phiếu, phụ thuộc chủ yếu vào quá trình định giá, phương pháp định giá, mô hình định giá, thông tin và dữ liệu sử dụng để định giá, lựa chọn các thông số đầu vào, và việc dự báo các thông số của định giá mà kết quả sẽ khác nhau giữa các nhà phân tích cơ bản khác nhau.
Sau khi tính toán giá trị thực của cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ so sánh giá trị này với giá thị 10 trường hiện tại của cổ phiếu để xem cổ phiếu có đang bị định giá thấp, cao hay phù hợp trên thị trường, để từ đó có thể đưa ra quyết định mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu. Giá trị thị trường Giá trị thị trường (Market price) là giá trị hiện tại của cổ phiếu thường trên thị trường, được xác định bằng giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Giá trị thị trường không do công ty phát hành ấn định hay cá nhân nào quyết định, mà được xác định tại mức giá mà người bán sẵn sàng bán và mức giá cao nhất mà người mua đồng ý trả. Hay nói cách khác, giá thị trường của cổ phiếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường. Ví dụ như các yếu tố cơ bản (môi trường vĩ mô mà doanh nghiệp hoạt động, yếu tố nội sinh của doanh nghiệp), các yếu tố kỹ thuật (xu hướng của thị trường, chu kỳ giá,…) và các yếu tố khác (hành vi và tâm lý nhà đầu tư, tâm lý thị trường, thị trường hiệu quả,…). Giá cổ phiếu được sử dụng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là giá đóng cửa tại ngày giao dịch cuối cùng của năm dương lịch, hay còn gọi là giá khớp lệnh sau cùng của năm. Các lý thuyết về giá cổ phiếu 2.
Lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) do Eugene Fama phát triển vào năm 1970 dựa trên cơ sở cho rằng giá cả tài sản tài chính phản ánh hoàn toàn và đầy đủ mọi thông tin sẵn có trên thị trường liên quan đến tài sản đó. Do đó, nhà đầu tư sẽ không tìm được lợi nhuận từ các thông tin đã được công khai. Hay nói cách khác, thị trường luôn thắng và nhà đầu tư không thể khôn ngoan hơn thị trường. Lý thuyết thị trường hiệu quả phân loại mức độ hiệu quả của thị trường thành 3 dạng chính.
Ba dạng này bao gồm: - Hiệu quả dạng yếu: Là khi giá cả hiện tại của tài sản tài chính đã phản ánh tất cả các thông tin đã được công bố trong lịch sử về giá của các tài sản đó.