Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tác động đến động lực làm việc và sự cam kết với tổ chức của công chức chi cục quản lý thị trường bình định

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và sự cam kết của công chức chi cục quản lý thị trường Bình Định.

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.7. Bố cục của nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

2.1.1. Khái niệm động lực làm việc

2.1.2. Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc cho người lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước

2.2. Lý thuyết về tạo động lực làm việc

2.2.1. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Abraham Maslow (1943)

2.2.2. Lý thuyết bản chất con người của Douglas Mc.

2.2.3. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959)

2.2.4. Học thuyết công bằng của Adams (1963)

2.2.5. Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964)

2.3. Các yếu tố gây ảnh hưởng đến động lực làm việc

2.3.1. Các yếu tố cá nhân người lao động

2.3.2. Các yếu tố thuộc nội hàm công việc đang đảm nhận

2.3.3. Các yếu tố thuộc môi trường tổ chức

2.3.4. Cam kết với tổ chức

2.3.5. Mối quan hệ giữa động lực làm việc và cam kết với tổ chức

2.3.6. Tổng quan các nghiên cứu trước

2.3.6.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
2.3.6.2. Một số nghiên cứu trong nước

2.3.7. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.3.8. Các giả thuyết cho đề tài

2.4. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Các thông tin cần thu thập

3.3. Nguồn thông tin thu thập

3.4. Nghiên cứu định tính

3.5. Xây dựng thang đo

3.6. Nghiên cứu định lượng

3.6.1. Thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu

3.6.2. Phân tích dữ liệu

3.7. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả mẫu

4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo

4.3. Kiểm định thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA

4.4. Mô hình nghiên cứu sau khi đánh giá thang đo

4.5. Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

4.5.1. Phân tích tương quan

4.5.2. Phân tích hồi quy

4.5.3. Kiểm định các giả thuyết

4.5.4. Phân tích sự khác biệt

4.6. Thảo luận các kết quả định lượng

4.6.1. Bản chất công việc

4.6.2. Hỗ trợ đồng nghiệp

4.6.3. Cơ hội học tập và thăng tiến

4.6.4. Phong cách lãnh đạo

4.6.5. Hỗ trợ tổ chức

4.6.6. Chính sách đãi ngộ

4.6.7. Động lực làm việc

4.7. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Xây dựng chương trình đào tạo và phát triển nghề nghiệp

5.2. Kiến nghị cho yếu tố Phong cách lãnh đạo

5.3. Kiến nghị cho yếu tố Chính sách đãi ngộ

5.4. Kiến nghị cho yếu tố Bản chất công việc

5.5. Kiến nghị cho yếu tố Mối quan hệ với đồng nghiệp

5.6. Kiến nghị cho yếu tố Hỗ trợ tổ chức

5.7. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thống kê mô tả

3.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo

3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.4. Phân tích tương quan

3.5. Phân tích hồi quy

3.6. Phân tích sự khác biệt

Tóm tắt

I. Tổng quan về động lực làm việc và cam kết tổ chức của công chức Bình Định

Động lực làm việc và cam kết tổ chức là hai yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của công chức tại Chi cục Quản lý thị trường Bình Định. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và cam kết tổ chức của công chức, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.

1.1. Định nghĩa động lực làm việc và cam kết tổ chức

Động lực làm việc được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của công chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Cam kết tổ chức là mức độ gắn bó và sự trung thành của công chức đối với tổ chức.

1.2. Tầm quan trọng của động lực làm việc trong cơ quan nhà nước

Động lực làm việc có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc của công chức. Nếu công chức thiếu động lực, hiệu quả công việc sẽ giảm sút, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức Bình Định

Nhiều yếu tố tác động đến động lực làm việc của công chức, bao gồm yếu tố cá nhân, yếu tố công việc và yếu tố môi trường làm việc. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý có những biện pháp phù hợp để nâng cao động lực làm việc.

2.1. Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến động lực làm việc

Các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc và thái độ cá nhân có thể ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức. Những công chức có trình độ cao thường có động lực làm việc tốt hơn.

2.2. Yếu tố công việc và môi trường làm việc

Bản chất công việc, cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc cũng là những yếu tố quan trọng. Một môi trường làm việc tích cực sẽ khuyến khích công chức làm việc hiệu quả hơn.

III. Thách thức trong việc duy trì động lực làm việc của công chức

Mặc dù có nhiều yếu tố tích cực, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc duy trì động lực làm việc của công chức tại Bình Định. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết kịp thời.

3.1. Tình trạng thiếu động lực làm việc

Nhiều công chức tại Chi cục Quản lý thị trường Bình Định đang gặp khó khăn trong việc duy trì động lực làm việc, dẫn đến tình trạng đi làm không đúng giờ và làm việc riêng trong giờ hành chính.

3.2. Nguyên nhân dẫn đến sự thiếu động lực

Nguyên nhân có thể đến từ chính sách đãi ngộ không hợp lý, thiếu cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc không thân thiện.

IV. Phương pháp nâng cao động lực làm việc cho công chức

Để nâng cao động lực làm việc, các nhà quản lý cần áp dụng những phương pháp hiệu quả. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện động lực mà còn gia tăng cam kết tổ chức của công chức.

4.1. Cải thiện chính sách đãi ngộ

Cần xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý, công bằng và minh bạch để khuyến khích công chức làm việc hiệu quả hơn.

4.2. Tạo cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp

Cung cấp các khóa đào tạo và cơ hội thăng tiến cho công chức sẽ giúp họ cảm thấy được trân trọng và có động lực làm việc hơn.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao động lực làm việc và cam kết tổ chức của công chức tại Chi cục Quản lý thị trường Bình Định là rất cần thiết. Những giải pháp được đề xuất sẽ giúp cải thiện tình hình hiện tại.

5.1. Kết quả khảo sát về động lực làm việc

Khảo sát cho thấy rằng đa số công chức cảm thấy thiếu động lực làm việc, điều này cần được khắc phục ngay.

5.2. Ứng dụng các giải pháp vào thực tiễn

Các giải pháp đã được đề xuất cần được áp dụng một cách đồng bộ để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao động lực làm việc.

VI. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng động lực làm việc và cam kết tổ chức của công chức tại Bình Định cần được chú trọng hơn nữa. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp đã được đề xuất.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và cam kết tổ chức của công chức.

6.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tác động và hiệu quả của các giải pháp đã được áp dụng.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tác động đến động lực làm việc và sự cam kết với tổ chức của công chức chi cục quản lý thị trường bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề an toàn lên trên tất cả các yếu tố khác liên quan đến công việc và sẽ thể hiện rất ít tham vọng. Theo Thuyết Y, các nhà quản lý thường có 4 giả thuyết như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11  Người lao động có thể nhìn nhận công việc là tự nhiên, như là sự nghỉ ngơi hay là trò chơi.  Một người đã cam kết với các mục tiêu thường sẽ tự định hướng và tự kiểm soát được hành vi của mình.  Một người bình thường có thể học cách chấp nhận trách nhiệm, hay thậm chí tìm kiếm trách nhiệm.

 Sáng tạo – có nghĩa là khả năng đưa ra những quyết định tốt – là phẩm chất của mọi người và phẩm chất này không chỉ có ở những người làm công tác quản lý. Thuyết X cho rằng các nhu cầu có thứ bậc thấp hơn thường chế ngự các cá nhân. Thuyết Y cho rằng các nhu cầu có thứ bậc cao hơn chế ngự các cá nhân. Bản thân Mc Gregor lại tin rằng các giả thuyết của Thuyết Y hợp lý hơn các giả thuyết của Thuyết X.

Vì vậy, ông đề ra các ý tưởng như tham gia vào việc ra quyết định, công việc đòi hỏi trách nhiệm và thách thức, quan hệ tốt trong nhóm, coi đây là những phương thức tối đa hóa động lực trong công việc của người lao động. Lý thuyết bản chất con người của Douglas Mc.Gregor (1956) chỉ ra tùy theo bản chất X (người không thích làm việc, lười biếng trong công việc) hay bản chất Y (người ham thích làm việc, có ý thức tự giác cao) của người lao động để áp dụng biện pháp động viên. Đối với người có bản chất X, nhà quản trị nên nhấn mạnh đến yếu tố kích thích bằng vật chất, giao phó công việc cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Ngược lại với người có bản chất Y, nhà quản trị nên dành nhiều quyết định trong công việc, tôn trọng sáng kiến của họ và tạo điều kiện để họ chứng tỏ năng lực hơn là kiểm tra.3 Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Frederick Herzberg đã phát triển thuyết động viên của ông bằng cách đề nghị các chuyên gia làm việc trong các xí nghiệp công nghiệp liệt kê các nhân tố làm họ thoả mãn và các nhân tố làm cho họ được động viên cao độ.

Đồng thời yêu cầu họ liệt kê các nhân tố mà họ không được động viên và bất mãn. Phát hiện của Herzberg LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn vì nó làm đảo lộn nhận thức thông thường của chúng ta. Chúng ta thường cho rằng đối ngược với thoả mãn là bất mãn và ngược lại. Tức là chỉ có hai tình trạng hoặc là thoả mãn hoặc là bất mãn.

Từ những thông tin thu thập được, Herzberg chỉ ra rằng đối nghịch với bất mãn không phải là thoả mãn mà là không bất mãn và đối nghịch với sự thoả mãn không phải là sự bất mãn mà là không thoả mãn. Kết quả nghiên cứu của Herzberg (1959) cho thấy có một số đặc điểm nhất định của công việc có liên quan mật thiết và nhất quán với mức độ thỏa mãn trong khi đó các yếu tố khác lại liên quan đến bất mãn trong công việc. Các nhân tố được Herzberg liệt kê như sau:  Các nhân tố liên quan đến sự thoả mãn còn gọi là các nhân tố động viên. Và các nhân tố này khác với các nhân tố liên quan đến sự bất mãn còn gọi là các nhân tố duy trì.

Đối với các nhân tố động viên nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thoả mãn và từ đó sẽ động viên người lao động làm việc tích cực và chăm chỉ hơn. Nhưng nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thoả mãn chứ chưa chắc đã bất mãn.  Trong khi đó đối với các nhân tố duy trì, nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nhưng nếu giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc đã có tình trạng thoả mãn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các nhân tố duy trì và động viên Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên 1.

Phương pháp giám sát 1. Sự thách thức của công việc 2. Hệ thống phân phối thu nhập 2. Các cơ hội thăng tiến 3.

Quan hệ với đồng nghiệp 3. Ý nghĩa của các thành tựu 4. Điều kiện làm việc 4. Sự nhận dạng khi công việc 5.

Chính sách của công ty được thực hiện. Cuộc sống cá nhân 5. Ý nghĩa của các trách nhiệm. Địa vị Quan hệ qua lại giữa các cá Nguồn: Herzberg (1959) nhân Tuy nhiên khi các nhân tố gây bất mãn được loại bỏ thì không có nghĩa là nhân viên sẽ hài lòng.

Nếu muốn động viên nhân viên, làm cho họ hài lòng trong công việc thì người quản trị cần chú trọng đến những yếu tố thuộc nhân tố động viên như sự thành đạt, sự thừa nhận và giao việc. Nhân viên Nhân viên Nhân viên bất Nhân tố không còn bất Nhân tố không còn bất mãn và không mãn nhưng duy trì động viên mãn và có có động lực không có động động lực lực Hình 2.2 Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nguồn: Herzberg (1959) Thuyết hai nhân tố của F. Herzberg có những ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị:  Thứ nhất những nhân tố làm thoả mãn người lao động là khác với các nhân tố tạo ra sự bất mãn. Vì vậy, nhà quản trị không thể mong đợi sự thoả mãn của người lao động bằng cách đơn giản là xoá bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14  Thứ hai việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thoả đáng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên. Trách nhiệm của đội ngũ quản trị là phải loại trừ sự bất mãn và tạo ra sự thoả mãn, không thể chú trọng một nhóm nào cả. (Nguyễn Hữu Lam, 1996) Trong một nghiên cứu khác của Herzberg (1976) được xây dựng trên cơ sở kiến thức thực tế của người lao động. Trên cơ sở khảo sát, Herberg đã chia thành hai mức độ:  Mức độ thứ nhất: làm việc một cách bình thường, nếu những biện pháp là nhân tố duy trì không được thỏa mãn, nhân viên sẽ bất mãn và làm việc kém hăng hái.

Nhân tố duy trì là thỏa mãn những nhu cầu bậc thấp.  Mức độ thứ hai: làm việc một cách hăng hái khi được động viên bằng những biện pháp gọi là nhân tố động viên, nếu không có, họ vẫn làm việc một cách bình thường. Nhân tố động viên là thỏa mãn những nhu cầu bậc cao và duy trì sự thỏa mãn. Việc động viên nhân viên đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên, không thể chú trọng một nhân tố nào cả.

Đây là điểm quan trọng cần chú ý trong công tác quản lý và duy trì nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp.4 Học thuyết công bằng của Adams (1963) Theo Adams, người lao động rất quan tâm đến vấn đề đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Họ có xu hướng so sánh những đóng góp, cống hiến của mình với những đãi ngộ và phần thưởng mà họ nhận được (gọi là công bằng cá nhân). Khi so sánh, đánh giá đóng góp, cống hiến với những đãi ngộ và phần thưởng của mình có thể có ba trường hợp xảy ra: Thứ nhất, nếu người lao động cho rằng họ được đối xử không tốt, phần thưởng là không xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra thì họ sẽ bất mãn và từ đó họ sẽ làm việc không hết khả năng của họ, thậm chí họ sẽ ngừng việc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Thứ hai, nếu người lao động tin rằng họ được đối xử đúng, phần thưởng và đãi ngộ là tương xứng với công sức của họ đã bỏ ra thì họ sẽ duy trì mức năng suất như cũ.

Thứ ba, nếu người lao động nhận thức rằng phần thưởng và đãi ngộ là cao hơn so với điều mà họ mong muốn họ sẽ làm việc tích cực hơn, chăm chỉ hơn. Song trong trường hợp này, họ có xu hướng giảm giá trị của phần thưởng, không coi trọng phần thưởng và do đó về lâu về dài phần thưởng sẽ không còn ý nghĩa khuyến khích. Hơn nữa, họ còn so sánh đóng góp, cống hiến, đãi ngộ và phần thưởng của mình với những người khác (gọi là công bằng xã hội). Người lao động cảm thấy tổ chức đối xử với họ công bằng khi tỷ lệ giữa quyền lợi họ nhận được và sự đóng góp của họ bằng tỷ lệ giữa quyền lợi và sự đóng góp của người khác.

Tuy nhiên khi so sánh những đóng góp, cống hiến, đãi ngộ và phần thưởng của mình với người khác thì con người thường có xu hướng đánh giá cao đóng góp, cống hiến của mình và đánh giá cao phần thưởng, đãi ngộ mà người khác nhận được. Thuyết công bằng cho rằng con người muốn được đối xử công bằng nhưng khi họ bị rơi vào tình trạng được đối xử không công bằng thì họ có xu thế tự thiết lập sự công bằng cho mình. Khi đối mặt với sự không công bằng con người thường có xu hướng chấp nhận, chịu đựng do họ hiểu rằng không có công bằng tuyệt đối cho tất cả mọi người và để đạt tới sự công bằng thì không thể có được trong ngắn hạn. Song, nếu họ phải đối mặt với sự không công bằng lâu dài thì họ sẽ bất mãn, phản ứng lại và thậm chí họ sẽ ngừng việc.

Do đặc điểm này các nhà quản trị phải luôn luôn quan tâm tới nhận thức của người lao động về sự công bằng, phải tích cực hoàn thiện hệ thống đãi ngộ và động viên làm cho nó tốt hơn và công bằng hơn chứ không phải ngồi chờ hoặc yên tâm khi người lao động không có ý kiến. Thuyết về sự công bằng đòi hỏi các nhà quản trị phải quan tâm tới các nhân tố chi phối đến nhận thức của người lao động về sự công bằng và từ đó tác động để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 tạo cho người lao động có được một nhận thức về sự công bằng (Nguyễn Hữu Lam, 1996).5 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Lý thuyết kỳ vọng được đề xuất bởi Vroom vào năm 1964. Vroom cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ