Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán, doanh nghiệp niêm yết, mức độ công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 5: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT, MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Đặc điểm của TTCK, đặc điểm của DN niêm yết sẽ chi phối và ảnh hưởng đến đặc điểm báo cáo tài chính và công bố thông tin của DN niêm yết; qua đó, cho thấy sự cần thiết, cũng như vai trò quan trọng của việc kiểm toán báo cáo tài chính và trách nhiệm trong việc công bố thông tin của các DN niêm yết, góp phần vào sự minh bạch của thông tin được công bố, và bảo vệ quyền lợi cổ đông cũng như nhà đầu tư. Những nội dung dưới đây sẽ phục vụ cho mục đích làm rõ cơ sở lý luận về TTCK, doanh nghiệp niêm yết, công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết, các mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết này. Tổng quan về thị trường chứng khoán và doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán 2.
Thị trường chứng khoán 2. Khái niệm thị trường chứng khoán Xét mối quan hệ trong thị trường chứng khoán và thị trường tài chính – thị trường vốn thì thị trường chứng khoán là một phần của thị trường tài chính. Thị trường tài chính gồm: Thị trường tài chính ngắn hạn (thị trường tiền tệ) và thị trường tài chính dài hạn (thị trường vốn); trong đó, thị trường tài chính dài hạn bao gồm: thị trường tín dụng dài hạn, thị trường cầm cố và thị trường chứng khoán. Theo từ điển tiếng Anh kinh tế (“Longman Dictionary of Business English”, 1985), thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức, là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo các quy tắc đã được ấn định.
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, số 70/2006/QH11 và Luật bổ sung sửa đổi số 62/2010/QH12, thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. 14 Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức, nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán được niêm yết trên thị trường. Thị trường chứng khoán cũng là thị trường tài chính bâc cao, nơi mà các nhà đầu tư (người mua/ người bán chứng khoán) luôn cần có các thông tin tài chính minh bạch để đưa ra các quyết định kinh tế của mình; nếu không, các nhà đầu tư chứng khoán có thể chịu thiệt hại rất nặng nề nếu như các thông tin tài chính mà họ dựa vào để ra quyết định không đảm bảo độ tin cậy. Chức năng của thị trường chứng khoán Chức năng của TTCK thể hiện vai trò cụ thể của TTCK đối với nền kinh tế, cụ thể là: Huy động vốn: Thông qua TTCK, các công ty, tổ chức kinh tế, Chính phủ có thể phát hành các cổ phiếu (stock), trái phiếu (bond), gọi chung là chứng khoán để huy động vốn, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và đầu tư.
Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư: Đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, mặc dù chịu nhiều rủi ro hơn, nhưng có khả năng sinh lời nhiều hơn – do không chỉ nhờ vào lãi suất mà còn nhờ vào việc mua/ bán lại các cổ phiếu, trái phiếu này trên TTCK, qua đó khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn. Công cụ di chuyển đầu tư: Một trong những sức hấp dẫn nhất của TTCK chính là giúp NĐT di chuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng thông qua việc quyết định mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó trên thị trường, đồng thời, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt (tính thanh khoản cao) khi cần thiết. Khuyến khích cạnh tranh: Giá cổ phiếu và trái phiếu của một công ty có thể lên hoặc xuống tùy vào nhu cầu thị trường. Điều này thúc đẩy các công ty có chứng khoán niêm yết phải nỗ lực kinh doanh hiệu quả, liên tục đổi mới công nghệ, phát triển thương hiệu để chứng khoán của công ty hấp dẫn trong mắt các NĐT.
15 Phản ánh sức khỏe nền kinh tế: Chỉ số chứng khoán phản ánh giá chứng khoán, được coi là phản ảnh sức khỏe nền kinh tế, cũng như mỗi ngành nghề kinh doanh, mỗi doanh nghiệp niêm yết. Công cụ hội nhập vào nền kinh tế thế giới: Nhờ vào công cụ di chuyển vốn dễ dàng, TTCK là công cụ để các nền kinh tế đang phát triển hội nhập nhanh chóng với nền kinh tế thế giới. Để các chức năng của TTCK phát huy tác dụng, các nhà quản lý yêu cầu các thông tin được công bố trên TTCK phải được cung cấp kịp thời, đầy đủ, đảm bảo tính minh bạch và có độ tin cậy cao. Phân loại thị trường chứng khoán Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, TTCK được phân loại khác nhau.
Cụ thể như sau: Căn cứ vào quá trình lưu thông chứng khoán: TTCK bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi chứng khoán được phát hành lần đầu ra công chúng, thị trường thứ cấp là nơi các chứng khoán được mua đi bán lại. Căn cứ vào phương thức giao dịch: TTCK bao gồm thị trường tập trung và thị trường phi tập trung. Thị trường tập trung là thị trường chính thức, có tổ chức, trong đó các chứng khoán được niêm yết và giao dịch mua bán tại một nơi gọi là SGDCK hay Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch: TTCK bao gồm: thị trường trao ngay, thị trường giao dịch kỳ hạn và thị trường giao dịch tương lai. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Trên TTCK, các chủ thể chính tham gia thị trường gồm: Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết chứng khoán, các NĐT chứng khoán và các định chế tài chính trung gian. 16 Các tổ chức phát hành chứng khoán tiến hành chào bán chứng khoán lần đầu qua thị trường sơ cấp nhằm tăng vốn phục vụ cho việc tài trợ các dự án, mục tiêu hoạt động của tổ chức phát hành. Tổ chức phát hành chứng khoán có thể gồm: Chính phủ – phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư; chính quyền địa phương – phát hành trái phiếu để tài trợ cho các dự án, nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương; các công ty cổ phần – phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty; các doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn – phát hành trái phiếu doanh nghiệp; các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ – phát hành chứng chỉ đầu tư.
Sau khi chứng khoán của các tổ chức phát hành được chào bán lần đầu trên TTCK sơ cấp, hay thường gọi là chào báo cổ phiếu lần đầu ra công chúng, sẽ được các NĐT giao dịch, mua bán lại trên TTCK thứ cấp. Khi các tổ chức phát hành tiến hành niêm yết chứng khoán là việc công bố chứng khoán đủ tiêu chuẩn giao dịch tại thị trường chính thức (SGDCK hay Trung tâm GDCK). Tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết trên TTCK. Tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và NĐT được coi là những chủ thể tạo nên sự sôi động của TTCK.
Trong đó, các công ty cổ phần là tổ chức phát hành và tổ chức niêm yết quan trọng, tạo ra nguồn hàng hóa (cổ phiếu, trái phiều) thường niên và có khối lượng giao dịch đáng kể trên thị trường chứng khoán. Doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán 2. Khái niệm doanh nghiệp niêm yết Doanh nghiệp niêm yết thực chất là các công ty cổ phần có chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được niêm yết trên thị trường chứng khoán (gồm SGDCK hoặc Trung tâm GDCK). Để làm rõ khái niệm doanh nghiệp niêm yết, có thể xét các khía cạnh sau: Xét từ các chủ thể tham gia TTCK, DNNY trước hết là tổ chức phát hành và có chứng khoán (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Dưới góc nhìn này, DNNY thực chất là công ty cổ phần với tư cách là tổ chức 17 niêm yết. DNNY không bao hàm nói tới các tổ chức phát hành có chứng khoán niêm yết khác như Chính phủ (niêm yết tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư); chính quyền địa phương (niêm yết trái phiếu địa phương); các doanh nghiệp Nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn (niêm yết trái phiếu doanh nghiệp); các quỹ đầu tư chwsgn khoán và công ty quản lý quỹ (niêm yết chứng chỉ đầu tư). Để trở thành doanh nghiệp niêm yết trên TTCK phải đáp ứng các tiêu chuẩn định tính và định lượng theo quy định của từng Sở và Trung tâm giao dịch. Các tiêu chuẩn định tính như: Triển vọng phát triển, tính khả thi của phương án sử dụng vốn từ đợt phát hành, ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện công bố thông tin.
Các tiêu chuẩn định lượng có thể gồm: thời gian hoạt động, quy mô vốn, hiệu quả hoạt động… Xét các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, DNNY là loại hình công ty cổ phần. Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp, có đa dạng các loại hình doanh nghiệp gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (đều được gọi chung là doanh nghiệp).1 cho thấy, khi doanh nghiệp là công ty cổ phần đại chúng và có chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán thì được gọi là doanh nghiệp niêm yết hay công ty cổ phần niêm yết.