Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, cả nước hiện có gần 600 cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng yếu thế do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý, bao gồm hơn 400 cơ sở bảo trợ xã hội, 121 cơ sở chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội và khoảng 42 trung tâm điều dưỡng người có công. Hoạt động của các cơ sở này mang tính nhân đạo sâu sắc theo tinh thần Nghị định 68/2008/NĐ-CP, tiếp nhận và chăm sóc người cao tuổi neo đơn, người khuyết tật, bệnh nhân tâm thần và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường tại các đơn vị này trong nhiều năm qua vẫn chưa được đầu tư tương xứng, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, phát sinh chất thải sinh hoạt và đe dọa trực tiếp sức khỏe của cán bộ cùng các nhóm đối tượng bảo trợ.

Đề tài nghiên cứu Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội qua khảo sát thực tế tại tỉnh Bến Tre tập trung nhận diện hiện trạng môi trường, phân tích nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ và đối tượng nuôi dưỡng, từ đó chỉ ra các nhân tố chủ quan lẫn khách quan tác động đến công tác quản trị môi trường nội bộ. Phạm vi nghiên cứu thực địa được triển khai tại hai đơn vị trọng điểm của tỉnh Bến Tre là Trung tâm Bảo trợ xã hội (đang quản lý 55 trại viên) và Trung tâm Bảo trợ trẻ em (chăm sóc 71 trẻ em), kết hợp phân tích đối sánh bộ số liệu thứ cấp từ 125 cơ sở bảo trợ xã hội trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2010 - 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp giảm thiểu từ 30% đến 50% nguy cơ ô nhiễm cục bộ, tạo cơ sở hoàn thiện khung tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường đặc thù cho các cơ sở an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng phối hợp ba lý thuyết xã hội học nền tảng nhằm giải thích cơ chế tương tác hành vi giữa con người và môi trường sống trong thiết chế khép kín:

Thứ nhất, Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của James Coleman và George Homans được sử dụng để luận giải hành vi của cán bộ và đối tượng thụ hưởng. Các cá nhân đưa ra quyết định dựa trên việc cân nhắc chi phí - lợi ích và mức độ thuận tiện khi tiếp cận hạ tầng vệ sinh. Khi cơ sở vật chất chưa đồng bộ, chủ thể có xu hướng lựa chọn hành vi tiêu tốn ít nguồn lực nhất dù hành vi đó có thể gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Thứ hai, Lý thuyết trao đổi xã hội làm rõ sự gắn kết giữa quyền lợi an sinh và trách nhiệm gìn giữ không gian sống chung. Mức độ hợp tác của cá nhân tăng lên khi họ nhận thấy môi trường sạch mang lại giá trị sức khỏe rõ rệt và sự tưởng thưởng từ tập thể.

Thứ ba, Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber phân định các loại hình hành động: hành động duy lý công cụ, duy lý giá trị, duy cảm và truyền thống. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều thói quen xả thải bắt nguồn từ hành động duy lý truyền thống hoặc nhận thức cảm tính, đòi hỏi phải chuyển hóa sang hành động duy lý giá trị thông qua giáo dục và chuẩn mực hóa quy chế.

Nghiên cứu làm rõ sáu khái niệm then chốt theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và xã hội học môi trường: Môi trường, Ô nhiễm môi trường, Quản lý môi trường, Nhận thức, Thái độ và Hành vi môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ báo cáo chuyên đề điều tra 125 cơ sở bảo trợ xã hội trên toàn quốc do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện, kết hợp đo đạc kiểm chứng các chỉ số hóa lý tại 3 cơ sở đại diện.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên tại tỉnh Bến Tre với quy mô mẫu khảo sát bảng hỏi gồm 130 cá nhân. Trong đó bao gồm 100 cán bộ, nhân viên (50 người thuộc độ tuổi 18 - 30 và 50 người thuộc độ tuổi 31 - 60) cùng 30 đối tượng thụ hưởng (10 trẻ từ 12 - 18 tuổi, 10 người từ 19 - 35 tuổi và 10 người từ 36 - 60 tuổi). Ngoài ra, tác giả thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện ban giám đốc, nhân viên chăm sóc trực tiếp và trại viên tiêu biểu, kết hợp quan sát trực tiếp hiện trạng hạ tầng tại hai trung tâm.

Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để phân tích tần số, lập bảng chéo và kiểm định mối tương quan giữa các biến số nhân khẩu học với hành vi bảo vệ môi trường trong mốc thời gian thực hiện từ năm 2010 đến 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng đã làm sáng tỏ bốn phát hiện cơ bản về hiện trạng môi trường và ý thức chủ thể tại các trung tâm:

Thứ nhất, có sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nước ngầm chưa qua kiểm định chuẩn. Tại hai trung tâm ở Bến Tre, 71,0% cán bộ và 70,0% đối tượng phải sử dụng nước giếng khoan cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (tắm giặt, vệ sinh). Tỷ lệ tiếp cận nước máy hợp vệ sinh chỉ đạt 25,0% ở nhóm cán bộ và 21,0% ở nhóm đối tượng, chủ yếu phục vụ nấu ăn và đun nước uống. Đáng chú ý, 53,0% trẻ em sử dụng nước giếng khoan so với 34,0% ở nhóm người cao tuổi, phản ánh sự chênh lệch trong thói quen và mức độ cẩn trọng nguồn nước.

Thứ hai, chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên diện rộng ở mức báo động. Dữ liệu từ 125 cơ sở toàn quốc cho thấy 28,0% đơn vị phản ánh nước sinh hoạt bị ô nhiễm, trong đó khu vực Bắc Trung Bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,1%. Kết quả kiểm nghiệm mẫu nước giếng khoan phát hiện 100% mẫu nhiễm khuẩn Coliform và chất hữu cơ; đặc biệt hàm lượng Asen vượt từ 92 đến 174 lần, hàm lượng Chì (Pb) vượt từ 7 đến 21 lần ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn môi trường. Toàn quốc chỉ có 57,6% cơ sở có hệ thống xử lý nước trước khi dùng, riêng khu vực Tây Nguyên có 50,0% cơ sở dùng nước giếng đào nhưng tỷ lệ có xử lý chỉ đạt 25,0%.

Thứ ba, hạ tầng thu gom và xử lý chất thải xuống cấp nghiêm trọng. Nước thải sinh hoạt tại hai cơ sở ở Bến Tre phần lớn xả tự do ra mương rãnh xung quanh, không qua hệ thống lọc lắng đạt chuẩn. Rác thải sinh hoạt chưa được phân loại triệt để tại nguồn; các công trình phụ trợ như nhà tắm, nhà vệ sinh không đáp ứng đủ tỷ lệ định mức trên đầu người theo Nghị định 68/2008/NĐ-CP.

Thứ tư, nhận thức và hành vi môi trường tồn tại khoảng cách lớn. Mặc dù hơn 80,0% cán bộ khẳng định hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, nhưng việc tham gia các khóa tập huấn chuyên sâu về quản lý chất thải chỉ chiếm tỷ lệ dưới 35,0%, dẫn đến các hành vi xử lý rác thải còn mang tính thụ động và đối phó.

Dữ liệu trên có thể được hệ thống hóa trực quan qua biểu đồ so sánh cơ cấu nguồn nước sử dụng giữa các nhóm tuổi và bảng thống kê mức độ ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng sinh thái để phục vụ công tác giám sát.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm và bất cập trong bảo vệ môi trường tại các cơ sở bảo trợ xã hội tỉnh Bến Tre bắt nguồn từ sự đan xen giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan:

Về mặt khách quan, nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng an sinh xã hội còn hạn hẹp. Hai trung tâm tại Bến Tre được xây dựng từ giai đoạn trước nên mặt bằng chật hẹp, trang thiết bị xử lý nước và rác thải đã hết niên hạn sử dụng. Công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ từ cơ quan quản lý nhà nước về môi trường còn thưa thớt, chưa tạo ra chế tài đủ mạnh để thúc đẩy chuyển đổi hạ tầng.

Về mặt chủ quan, đặc thù đối tượng nuôi dưỡng tại trung tâm là người già yếu, người tâm thần mất năng lực hành vi và trẻ nhỏ chưa đủ nhận thức. Điều này gây áp lực khổng lồ lên đội ngũ nhân viên chăm sóc vốn đang thiếu hụt về số lượng và chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng bảo vệ môi trường.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây của Hà Huy Thành, Tô Duy Hợp và Đặng Đình Long khi khẳng định văn hóa môi trường và thói quen sinh hoạt đóng vai trò quyết định trong việc duy trì chuẩn mực vệ sinh. Nghiên cứu cũng củng cố nhận định của Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh về vai trò tối thượng của việc phổ biến thông tin môi trường. Điểm đóng góp mới của luận văn là làm rõ tính chất dễ bị tổn thương kép của các đối tượng trong cơ sở bảo trợ: vừa là nạn nhân của môi trường sống ô nhiễm, vừa là tác nhân phát thải thiếu kiểm soát do rào cản thể chất và tâm thần.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ an sinh tại các cơ sở bảo trợ xã hội, luận văn đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ hạ tầng cấp thoát nước và xử lý chất thải. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre cần phối hợp với Sở Xây dựng bố trí gói ngân sách chuyên dụng để lắp đặt hệ thống lọc nước máy công nghiệp và trạm xử lý nước thải sinh hoạt khép kín tại hai trung tâm. Mục tiêu cụ thể là đạt 100% tỷ lệ nước sạch sử dụng và 100% nước thải được xử lý đạt chuẩn xả thải trước năm 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình phân loại rác thải tại nguồn và vệ sinh môi trường nội khu. Ban Giám đốc các trung tâm cần ban hành sổ tay hướng dẫn phân loại chất thải rắn, rác thải y tế và rác thải hữu cơ. Định kỳ mỗi tuần tổ chức 01 buổi lao động vệ sinh môi trường, lồng ghép hoạt động vật lý trị liệu cho các trại viên có khả năng lao động nhằm giảm thiểu 60% lượng rác thải tồn đọng trong khuôn viên.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và nhận thức cho đội ngũ cán bộ, nhân viên. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần tổ chức tối thiểu 2 khóa đào tạo hàng năm về quản lý môi trường cơ sở cho 100% cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc trực tiếp, gắn tiêu chí bảo vệ môi trường vào quy chế đánh giá thi đua khen thưởng định kỳ.

Thứ tư, tăng cường liên kết xã hội hóa và thanh tra, giám sát độc lập. Chính quyền địa phương cần huy động sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư xung quanh để tài trợ trang thiết bị lọc nước và cây xanh cảnh quan. Thiết lập cơ chế kiểm tra chất lượng nguồn nước và không khí định kỳ 6 tháng một lần do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện từ nay đến năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm độc giả chuyên biệt:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách an sinh xã hội. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng thông tư hướng dẫn quy chuẩn môi trường đặc thù, phân bổ ngân sách hạ tầng sát với nhu cầu thực tế của các trung tâm trợ giúp xã hội.

Thứ hai, ban giám đốc và cán bộ quản lý tại hơn 600 cơ sở trợ giúp xã hội trên toàn quốc. Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp các nhà quản lý nhận diện điểm nghẽn vệ sinh nội khu, tối ưu hóa quy trình phân loại rác thải, kiểm soát nguồn nước và thiết kế các liệu pháp lao động trị liệu thân thiện với môi trường cho trại viên.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Khoa học Môi trường. Đề tài cung cấp khung phân tích lý thuyết chuẩn mực (lựa chọn hợp lý, trao đổi xã hội, hành động xã hội) kết hợp phương pháp xử lý số liệu SPSS 13.0, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về an sinh và môi trường.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện và đối tác phát triển cộng đồng. Báo cáo giúp các nhà tài trợ đánh giá chính xác các danh mục ưu tiên cần viện trợ hạ tầng (như máy lọc nước công suất lớn, hệ thống pin mặt trời, bể tự hoại hợp chuẩn), tối ưu hóa từ 30% đến 40% chi phí tài trợ an sinh.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu nào để phân tích hiện trạng môi trường? Nghiên cứu kết hợp nguồn số liệu thứ cấp điều tra diện rộng tại 125 cơ sở bảo trợ xã hội trên cả nước và nguồn số liệu sơ cấp khảo sát 130 đối tượng, cán bộ tại tỉnh Bến Tre cùng 10 cuộc phỏng vấn sâu chất lượng cao.

Tại sao các trung tâm bảo trợ tại Bến Tre vẫn chủ yếu dùng nước giếng khoan? Do hạ tầng mạng lưới cấp nước sạch đô thị chưa bao phủ hoàn chỉnh và chi phí vận hành nước máy cao, khiến 71,0% cán bộ và 70,0% đối tượng phải phụ thuộc vào nguồn nước giếng khoan tự khai thác để phục vụ sinh hoạt.

Mức độ ô nhiễm nguồn nước ngầm tại các cơ sở bảo trợ đáng báo động ra sao? Kết quả kiểm nghiệm đo đạc chỉ ra 100% mẫu nước giếng khoan nhiễm khuẩn Coliform; đáng chú ý hàm lượng Asen vượt từ 92 đến 174 lần và hàm lượng chì vượt từ 7 đến 21 lần ngưỡng an toàn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam.

Khung lý thuyết xã hội học nào được ứng dụng để giải thích hành vi môi trường? Tác giả đã tích hợp ba khung lý thuyết kinh điển gồm: Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của James Coleman, Lý thuyết trao đổi xã hội của George Homans và Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber để làm rõ các tương tác hành vi.

Giải pháp then chốt nào cần ưu tiên triển khai ngay tại các trung tâm? Ưu tiên hàng đầu là đầu tư lắp đặt hệ thống lọc nước sạch sinh hoạt khép kín và trạm xử lý nước thải đạt chuẩn trước năm 2025, kết hợp tập huấn quy trình phân loại chất thải rắn y tế và sinh hoạt cho 100% nhân viên chăm sóc.

Kết luận

Nghiên cứu đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về thực trạng môi trường và các yếu tố tác động tại các cơ sở bảo trợ xã hội với 5 đóng góp học thuật trọng tâm:

  • Lượng hóa chính xác thực trạng phụ thuộc vào nước giếng khoan chưa qua xử lý với tỷ lệ trên 70,0% tại các trung tâm ở tỉnh Bến Tre.
  • Chỉ rõ nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng (Asen vượt ngưỡng tới 174 lần, chì vượt tới 21 lần) đe dọa trực tiếp sức khỏe đối tượng bảo trợ.
  • Khẳng định tính hợp lý khi vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học (lựa chọn hợp lý, trao đổi, hành động xã hội) để giải mã hành vi môi trường trong thiết chế khép kín.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi từ sự xuống cấp của cơ sở vật chất và sự thiếu hụt cán bộ chăm sóc được đào tạo kỹ năng môi trường.
  • Xây dựng lộ trình giải pháp khả thi với mục tiêu 100% cơ sở đạt chuẩn môi trường và nước sạch vào giai đoạn 2025 - 2027.

Công trình là đóng góp học thuật quý báu cho chuyên ngành Xã hội học môi trường và Công tác xã hội tại Việt Nam. Các cấp quản lý cần nhanh chóng đưa các khuyến nghị vào kế hoạch hành động thực tiễn để bảo vệ toàn diện quyền được sống trong môi trường trong lành của những người yếu thế trong xã hội.