Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu chung về đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập của các hộ gia đình khu vực nông thôn Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các khái niệm, các lý thuyết có liên quan và tổng quan một số đề tài nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong phân tích và mô tả dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả nghiên cứu nhằm phân tích tác động của nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam và thảo luận các kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Tóm lược lại các kết quả nghiên cứu quan trọng của đề tài, từ đó đề xuất những kiến nghị về chính sách quản lý để tạo điều kiện tăng thu nhập cho hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở KHU VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM 2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn 2.1 Khái niệm về hộ gia đình Hộ gia đình (hay còn gọi đơn giản là hộ) là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, cũng như Bộ luật dân sự năm 2005, hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên của một gia đình có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Trong kinh tế học, hộ gia đình là một nhóm cá nhân có quá trình ra quyết định gắn bó với nhau. Trong hệ thống kinh tế, hộ gia đình thực hiện một số chức năng quan trọng. Một mặt, họ gia nhập thị trường với tư cách người mua hoặc người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ do khu vực doanh nghiệp sản xuất ra.
Mặt khác, họ nắm giữ và cung ứng các nguồn lực đầu vào (tư bản, lao động, đất đai…) cho khu vực doanh nghiệp để khu vực này sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Việc cung ứng các yếu tố sản xuất đem lại cho họ thu nhập và họ sử dụng thu nhập này vào tiêu dùng và tích lũy. Hộ nông dân là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ.
Đặc điểm cơ bản nhất của phương thức sản xuất hộ nông dân là dựa trên sử dụng lao động gia đình là chính, chỉ đi thuê một phần nhỏ lao động. Nakajima (1986) định nghĩa hộ gia đình nông thôn là một tổ hợp của “công ty 6 nông nghiệp” sản xuất đầu ra nông nghiệp bằng đầu vào là lao động hộ gia đình, đất đai và các yếu tố đầu vào biến đổi khác. Trong nghiên cứu này tác giả sẽ tiếp cận khái niệm hộ gia đình nông thôn là đơn vị kinh tế nhỏ nhất trong xã hội, kế sinh nhai của hộ chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp.2 Thu nhập của hộ gia đình Theo OECD (2013), thu nhập hộ gia đình là tất cả các khoản thu, bao gồm cả tiền mặt và hiện vật (hàng hóa và dịch vụ) mà hộ gia đình hoặc các thành viên của hộ gia đình nhận được trong khoảng thời gian hàng năm nhưng không bao gồm các khoản thu nhập bất ngờ và các khoản thu không thường xuyên. Thu nhập hộ gia đình bao gồm: (1) Thu nhập từ việc làm (cả lao động được trả lương và tự kinh doanh); (2) Thu nhập từ tài sản; (3) Thu nhập từ việc sản xuất các dịch vụ cho tiêu dùng của hộ gia đình; (4) các khoản chuyển nhượng hiện tại đã nhận (trừ các khoản chuyển nhượng xã hội bằng hiện vật); và (5) các khoản chuyển nhượng xã hội bằng hiện vật.
Tương tự, Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO) định nghĩa thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Tổng chi phí vật chất và dịch vụ sử dụng Thu nhập của hộ = Tổng thu của hộ - cho hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ Thu nhập hộ gia đình là tổng các khoản thu nhập bằng tiền hay bằng hiện vật do lao động của các thành viên tạo ra. Thu nhập hộ gia đình là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ gia đình, nói cách khác đây chính là nguồn thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp của hộ gia đình và các khoản trợ cấp của nhà nước, trợ cấp của họ hàng hoặc các thành viên trong gia đình gửi về.3 Các thành phần thu nhập của hộ gia đình nông thôn Theo Barrett và cộng sự (2001) các thành phần của thu nhập của hộ gia đình nông thôn có thể được phân thành ba loại: theo lĩnh vực (nông nghiệp và phi nông nghiệp), theo chức năng (làm công ăn lương và tự tạo việc làm) hoặc theo không gian (làm tại địa phương và di cư). - Phân loại theo lĩnh vực bao gồm thu nhập nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp.
+ Thu nhập nông nghiệp có nguồn gốc từ sản xuất, thu nhập các loại cây trồng chưa qua chế biến hoặc chăn nuôi, lâm nghiệp hoặc đánh bắt thủy hải sản, sản phẩm từ tài nguyên thiên nhiên. + Thu nhập phi nông nghiệp có nguồn gốc từ tất cả các nguồn thu nhập khác, bao gồm chế biến, vận chuyển, kinh doanh chưa qua chế biến nông nghiệp, lâm nghiệp và các sản phẩm thủy hải sản - Phân loại theo chức năng thì các hoạt động trong thị trường lao động nông thôn bao gồm hoạt động làm công ăn lương và hoạt động tự tạo việc làm. Làm công ăn lương là những người bán dịch vụ lao động của họ, sử dụng lao động để đổi lấy tiền lương (bao gồm cả hiện vật và hiện kim), trong khi những người tự tạo việc làm bán các dịch vụ lao động cho mình. - Phân loại theo không gian bao gồm làm việc tại địa phương hay là di cư.
+ Làm việc tại địa phương có thể phân chia thành hai loại. Loại thứ nhất là làm việc tại nhà (hoặc nông trại) của chính mình. Loại thứ hai là làm việc tại địa phương cư trú bao gồm: làm việc tại thôn xóm nơi cư trú, làm việc tại thị trấn nông thôn gần nơi cư trú, làm việc tại thành phố trung gian. + Làm việc xa nhà (di cư) được phân thành ba loại: di cư giữa các vùng nông thôn trong nước, di cư đến các khu đô thị trong nước, di cư ra nước ngoài.
Theo Teame và cộng sự (2016) thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn được chia thành thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập của người lao động trong các hoạt động phi nông nghiệp và thu nhập phi lao động (tức là thu nhập phát sinh từ ngoài thị trường lao động) 8 Nghiên cứu của Abdulai. A và cộng sự (2001) thu nhập của các hộ nông dân tập trung vào bốn hoạt động chính: sản xuất cây lương thực; sản xuất cây trồng; chăn nuôi và công việc phi nông nghiệp. Trong khi nghiên cứu của Ersado (2003) đề xuất ba hình thức thu nhập: thu nhập làm công ăn lương, thu nhập tự tạo việc làm và thu nhập phi lao động: - Thu nhập làm công ăn lương có thể được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như làm việc trong chính phủ, trong các đơn vị tư nhân chính thức hoặc không chính thức, làm việc trong các vùng phụ cận, trong ngành nông nghiệp và các lĩnh vực khác. - Các thành viên trong gia đình có thể tự tạo việc làm trong nông nghiệp hoặc kinh doanh riêng.
Thu nhập từ việc làm tự tạo trong nông nghiệp bao gồm năm loại: cây lương thực; công nghiệp cây trồng; các loại trái cây và rau quả; chăn nuôi; các ngành nông nghiệp khác. - Thu nhập phi lao động là các khoản thu nhập từ chuyển nhượng và từ tài sản.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về đa dạng hóa thu nhập 2.1 Đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Điển hình như nghiên cứu của Abdulai (2001) cho rằng đa dạng hóa thu nhập là việc phân bổ tài sản sản xuất giữa các hoạt động tạo thu nhập khác nhau, cả trong và ngoài trang trại. Trong khi, Bryceson (1999) lại cho rằng đa dạng hóa thu nhập là sự mở rộng các nguồn thu nhập của cư dân nông thôn tránh xa lao động nông trại của chính họ.
Cụ thể là thay đổi hình thức lao động từ lao động hộ gia đình nông dân đến lao động lương; tăng thay thế công việc nông nghiệp với các hoạt động phi nông nghiệp. Hay theo Ellis (1998), đa dạng hóa thu nhập nông thôn được định nghĩa là "quá trình mà các hộ gia đình xây dựng một danh mục các hoạt động đa dạng và khả năng hỗ trợ xã hội để tồn tại và để cải thiện mức sống của họ”.