Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015, SỬA ĐỔI NĂM 2017 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Nhận thức khoa học về các tội xâm phạm trật tự công cộng 1. Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm trật tự công cộng * Khái niệm trật tự công cộng “Trật tự công cộng” được tiếp cận dưới nhiều góc độ ngôn ngữ học, khoa học an ninh hay khoa học pháp lý, nhưng cơ bản được hiểu là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành, điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự - an toàn chung, yêu cầu toàn bộ các thành viên của xã hội buộc phải tuân thủ, phải chấp hành nhằm bảo đảm an ninh, an toàn cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người dân trong đời sống xã xã hội. Có Từ điển giải thích cho rằng: “trật tự công cộng” là thuật ngữ phản ánh “trạng thái có tổ chức, ổn định, có kỷ luật, trật tự ở nơi công cộng.
và đã liệt kê những nơi được coi là công cộng, phục vụ cho lợi ích công cộng như công viên, nhà hát, khu nghỉ mát, quảng trường, nói chung được tổ chức ổn định, có quy tắc chung, quy ước chung tôn trọng bởi mọi người khi ở đó [26, tr. Thực tế, các hành vi xâm phạm đến trật tự công công là xâm phạm, làm ảnh hưởng đến trạng thái bình thường ổn định, yên ổn, có kỷ luật ở những nơi kể trên và bắt buộc mọi người tham gia trong xã hội thực hiện nghiêm chỉnh. Tùy mức độ vi phạm mà chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự. Trật tự công cộng là trạng thái ổn định, có trật tự ở nơi công cộng sinh hoạt chung trong xã hội, được bảo đảm và thực hiện bởi các quy tắc, quy phạm nhất định với chế tài tương ứng (hành chính, hình sự) mà tất cả mọi người phải tuân thủ, chấp hành và tôn trọng.
8 * Định nghĩa khoa học về các tội xâm phạm trật tự công cộng Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) đã quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được xem có số lượng điều luật (tội danh) với 70 điều, quy định từ Điều 260 đến Điều 329. Chương này được chia ra thành 04 nhóm (mục) bao gồm: - Các tội phạm an toàn giao thông; - Các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin; - Các tội phạm khác xâm phạm an toàn công cộng; - Các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng. Việc sửa đổi, bổ sung các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nhằm khắc phục một số tồn tại, bất cập trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này (các tình tiết định tính chưa được cụ thể hóa, nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc đã có nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi tương ứng). Cùng với đó, thực hiện chính sách hình sự, đề cao hiệu quả và tăng cường tính hướng thiện trong xử lý tội phạm và phòng ngừa tội phạm, cũng như đáp ứng yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Vì vậy, khái niệm được các sách báo đề cập thường định nghĩa chung là “các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng” trong đó có tội xâm phạm trật tự công cộng và rất ít tách riêng ra trong giáo trình, sách bình luận, chuyên khảo hay luận văn, luận án… Tuy nhiên, dù còn nhiều cách định nghĩa nhưng tổng hợp các quan điểm đó cơ bản đều thống nhất và phân tích được bản chất pháp lý của nhóm tội phạm này. Một số giáo trình Luật hình sự Phần các tội phạm thường nêu khái niệm chung cho cả nhóm tội (các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng) và định nghĩa là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ 9 luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (không nêu điều kiện về độ tuổi) thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (gắn với Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999), xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, cũng như gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân” [29, tr. Gần đây, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.Trịnh Quốc Toản chủ biên (phần viết của GS. Đỗ Ngọc Quang) đã định nghĩa: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và việc xâm hại đến các quan hệ xã hội đó phản ánh đầy đủ nhất bản chất của các tội phạm này [16, tr.
Như vậy, dù ghép chung nhưng vẫn nhận thấy, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (riêng đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng chỉ có lỗi cố ý), xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và việc xâm hại đến các quan hệ xã hội đó phản ánh đầy đủ nhất bản chất pháp lý của các tội phạm này, mặc dù vậy, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có một tội đã bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại - tội rửa tiền. Do đó, “việc đưa thêm chủ thể là pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế về thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng và cũng phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa” [37]. Vì vậy, khái niệm đang nghiên cứu cần bổ sung thêm chủ thể này trong định nghĩa. 10 Tuy nhiên, gắn với đề tài đề án này, xét riêng về khái niệm “các tội xâm phạm trật tự công cộng” thì qua nghiên cứu, học viên mới có những quan điểm như sau: Tác giả Triệu Văn Nam nêu: Các tội xâm phạm trật tự công cộng được hiểu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng [15, tr.
Khái niệm này định nghĩa trong tương quan so sánh với các quy định Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm trật tự công cộng, nên chưa cập nhật hình thức lỗi (chỉ có cố ý) và chủ thể của tội phạm có cả pháp nhân thương mại trong tội rửa tiền của nhóm tội phạm này. Website nghiên cứu về pháp luật định nghĩa tách riêng khái niệm nhóm tội phạm này: Các tội xâm phạm trật tự công cộng là các tội quy định đối với những người (có năng lực trách nhiệm dân sự và từ đủ 16 tuổi trở lên) có những hành vi cố ý gây nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, đồng thời còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác [34]. Tuy nhiên, cần nêu chính xác nội dung là có năng lực trách nhiệm hình sự, và còn do chủ thể là pháp nhân thương mại thực hiện và xâm phạm trật tự công cộng (trực tiếp) và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác (gián tiếp) vì trong khái niệm chưa đầy đủ nội dung. Lê Đăng Doanh và PGS.TS Cao Thị Oanh cùng tập thể tác giả định nghĩa: Các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm trật tự công cộng, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ [7, tr.696] … Tương tự, cần lưu ý, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có một tội đã bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại - tội rửa tiền nên trong khái niệm cần có dấu hiệu này.
Các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do hai chủ thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại (đủ điều kiện về chủ thể) thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội liên quan đến quy định, quy tắc của Nhà nước về trật tự xã hội, xâm phạm đến hoạt động ổn định, trật tự bình thường ở nơi công cộng. * Đặc điểm của các tội xâm phạm trật tự công cộng Đặc điểm chung các tội xâm phạm trật tự công cộng được phản ánh qua định nghĩa khoa học trên trên như sau: a) Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến hệ thống quy định, quy tắc của Nhà nước đã ban hành về trật tự công cộng Như đã đề cập ở trên, “trật tự công cộng” là cụm từ phản ánh “trạng thái có tổ chức, ổn định, có trật tự, kỷ luật ở nơi công cộng. yêu cầu tất cả mọi người thực hiện nghiêm chỉnh, nghiêm túc và tôn trọng mọi người khác [26, tr. Nhà nước đề ra, xây dựng các quy tắc, quy định, quy ước chung tạo ra hệ thống để mọi người dân, tổ chức tuân thủ, do đó, các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến hệ thống quy định, quy tắc của Nhà nước đã ban hành về lĩnh vực trật tự công 12 cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của tổ chức, của Nhà nước, gián tiếp còn có thể gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội.