Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam Chương 2: Quy định về các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quy định về các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự năm 1999 và nâng cao chất lượng xét xử các tội phạm này. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của các tội vi phạm an toàn giao thông đƣờng bộ theo Luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm các tội vi phạm an toàn giao thông đƣờng bộ Khái niệm tội phạm được Bộ luật Hình sự 1999 quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [36, Điều 8].
Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999, thì khái niệm của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong các điều luật phần các tội phạm cụ thể, bằng mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm. Tuy nhiên, dù được khái niệm chung về tội phạm hay khái niệm về các loại tội phạm cụ thể, thì dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất cấu thành tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội và tính lỗi. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, Bộ luật hình sự 1999 quy định phân loại tội phạm tại khoản 2, khoản 3 Điều 8: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” [36, Điều 8]. Hiện nay, nhà nước tập trung các nguồn lực phát triển giao thông đường bộ, ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; có chính sách huy động các nguồn lực để quản lý, bảo trì đường bộ. Bởi giao thông đường bộ luôn giữ một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào. Trong những năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã nỗ lực cố gắng và đưa ra nhiều giải pháp để kiềm chế sự gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra nghiêm trọng, trong đó đứng đầu là tai nạn giao thông đường bộ.
Mà một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng trên là hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ trong những năm qua có xu hướng gia tăng. Để đảm bảo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trật tự, an toàn giao thông đường bộ, thì các quy định hình sự về các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ sẽ là biện pháp để răn đe, trừng trị với các chủ thể có hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ và góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở nước ta hiện nay. Chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chung về các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ như sau: Các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của công dân, tổ chức hoặc nhà nước. Đặc điểm các tội vi phạm an toàn giao thông đƣờng bộ Những đặc điểm, dấu hiệu của các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ là cơ sở xem xét, xác định hành vi phạm tội của chủ thể.
Các dấu hiệu này bao gồm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội; được BLHS quy định; do chủ thể có năng lực TNHS thực hiện; tính lỗi; xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ; tính phải chịu hình phạt tương ứng. Đặc điểm thứ nhất: Là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Hành vi của tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ trước hết phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức là phải thể hiện bằng hành vi xác định của con người. Hành vi đó xâm hại đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ. Hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác hoặc của nhà nước và được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.
Hành vi phạm tội thể hiện bằng hành động hoặc không hành động xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ theo quy định của BLHS 1999 có thể bao gồm các hành sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác; gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông (Điều 202); - Hành vi vi phạm do cản trở giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác; các hành vi có thể là: Đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; Đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; Tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; Mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có giải phân cách; Lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ (Điều 203). - Hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn. Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác (Điều 204); - Hành vi điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ. Người điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác (Điều 205).
- Hành vi tổ chức đua xe trái phép và hành vi đua xe trái phép (Điều 206 và Điều 207). Đặc điểm thứ hai: Hành vi vi phạm phải được BLHS quy định Theo quy định của Điều 2 BLHS 1999 quy định về cơ sở của TNHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS”. Các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ được quy định từ Điều 202 đến Điều 207 của BLHS 1999. Nếu hành vi của chủ thể không cấu thành các tội được quy định trong BLHS thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt trong BLHS.
Đặc điểm thứ ba: Do chủ thể có năng lực TNHS và đạt đủ độ tuổi theo quy định của BLHS thực hiện Người có năng lực TNHS phải đạt độ tuổi theo quy định của BLHS và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; + Về độ tuổi: Theo quy định của BLHS 1999 về tuổi chịu TNHS: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [36, Điều 12]. + Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể: BLHS 1999 dùng phương pháp loại trừ khi quy định các trường hợp không có năng lực TNHS: Điều 13 BLHS 1999 quy định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS”.
Đặc điểm thứ tư: Hành vi phạm tội phải có lỗi của chủ thể 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể đối với hành vi phạm tội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi của chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ thể hiện: Lỗi cố ý và lỗi vô ý.