Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC 1. KHÁI NIỆM CÁC TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC Hiện nay, BLHS Việt Nam không định nghĩa như thế nào là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Cách định nghĩa thứ nhất - TS Phạm Văn Beo cho rằng: "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác" [1], cách định nghĩa thứ hai cho rằng: "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe" [14, tr. Theo quan điểm của chúng tôi, các cách định nghĩa trên vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp bởi lẽ các cách định nghĩa này đều không đề cập đến năng lực TNHS, dấu hiệu độ tuổi chịu TNHS, cũng như tính trái pháp luật của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Bởi vậy trên cở sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã 16 z hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [18]. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chúng tôi đưa ra khái niệm mới về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS thực hiện và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực chất là hai tội được ghi trong cùng một điều luật, tuy nhiên do hành vi và hậu quả của chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau cho nên hai loại tội này được các nhà làm luật xếp vào cùng một điều luật - đó là tội gây thương tích cho người khác và tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Như vậy, có thể hiểu "tội cố ý gây thương tích" có dấu hiệu bắt buộc là phải có hậu quả thương tích, là vết thương để lại trên cơ thể con người; tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải có hậu quả xảy ra làm tổn hại các chức năng, bộ phận trên cơ thể của con người (ví dụ: làm rối loạn hệ tuần hoàn, rối loạn hệ tiêu hóa…).
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC 1. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trƣớc năm 1985 Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ mới được thành lập phải đối mặt với những khó khăn vật chất. Trước tình hình đó nhân dân ta phải đối mặt với ba nhiệm vụ lớn là tiêu diệt giặc đói, giặc dốt và 17 z giặc ngoại xâm. Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm bằng các sắc lệnh trên các lĩnh vực như trừng trị phản động, âm mưu hành động phản quốc, sắc lệnh quy định về trốn tránh nghĩa vụ, sắc lệnh về phòng, chống các tội phạm cụ thể như hành vi trộm cắp, phá hủy… Tuy nhiên, trong tình hình cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như các văn bản pháp luật hình sự nói riêng mới ban hành không thể đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng.
Vì thế ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong đó có Luật hình An Nam, Hoàng Việt hình luật và Hình luật pháp tu chính. Mặc dù thời gian không nhiều, lại phải đối mặt với rất nhiều khó khăn nhưng Nhà nước ta trong thời kì này đã thể hiện một sự tiến bộ đáng kể so với Nhà nước phong kiến tồn tại lâu dài trước đó trong công tác lập pháp hình sự. Với sự cố gắng đó pháp luật hình sự đã trở thành công cụ đắc lực của chính quyền dân chủ nhân dân trong công cuộc củng cố lực lượng, trấn áp tội phạm. Trong chế độ ta thì con người luôn được xác định là vốn quý nhất, chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu tiên sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Chính phủ đã ban hành Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ chính thức quy định tội cố ý gây thương tích.
Cụ thể là, tại điểm 3 của thông tư có quy định: "Đánh bị thương phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm"; "đánh bị thương có tổ chức hay gây thành cố tật, hay gây chết người có thể phạt đến 20 năm" [28]. Quy định trên được áp dụng ở miền Bắc từ năm 1955 đến năm 1976. Thông tư đã đưa ra được ba tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, đó là "có tổ chức", "gây thành cố tật" hoặc "gây 18 z chết người". Điều này thể hiện bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta.
Tuy nhiên, thông tư này chưa đưa ra được khái niệm "đánh bị thương", cũng như chưa làm rõ được trường hợp đánh bị thương dẫn đến chết người với trường hợp giết người. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, để đảm bảo an ninh trật tự và đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt với 7 loại tội phạm, trong đó có quy định về tội cố ý gây thương tích. Tại điểm b điều 5 Sắc luật số 03-SL/76 quy định: "Phạm tội cố ý gây thương tích thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm". Ngày 02/7/1976 Quốc hội chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được áp dụng chung cho cả nước.
Do vậy, để giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích, chúng ta chủ yếu áp dụng điểm b Điều 5 Sắc luật số 03-SL/76 nói trên cho đến trước khi BLHS 1985 ra đời. Thể chế hóa văn bản trên, hàng năm Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) vẫn tổng kết, hướng dẫn các cơ quan bảo vệ pháp luật để các cơ quan này thực hiện tốt chức năng xét xử của mình. Ngày 27/6/1985 là thời điểm đánh dấu bước chuyển biến mang tính lịch sử, đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Đây là ngày mà Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII kỳ họp thứ 9 thông qua BLHS Việt Nam đầu tiên.
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người đã được quy định tại chương II ngay sau chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Điều này, một lần nữa lại minh chứng cho sự coi trọng của Nhà nước ta đối với quyền được bảo hộ về sức khỏe của công dân. Trong BLHS 1985, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 109 19 z bao gồm 4 khung hình phạt và trong mỗi khung thì có mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, trong đó, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội này là 20 năm tù. Điều 109 BLHS năm 1985 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác như sau: 1- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác; b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; c) Có tính chất côn đồn hoặc tái phạm nguy hiểm; 3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm. 4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2, ở khoản 3 Điều này mà do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm [15].