Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học "Bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự Việt Nam" được tác giả Lê Thị Diễm Hằng thực hiện tại Khoa Pháp luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Độ và TS. Lê Đăng Doanh. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số đào tạo 9.04, hoàn thành năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Cơ sở pháp lý quốc tế và quan điểm của Nhà nước: Người dễ bị tổn thương (NDBTT - vulnerable person) là nhóm đối tượng được ưu tiên bảo vệ trong các văn kiện pháp lý quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (UNCRC), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW) và Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007 (CRPD). Tại Việt Nam, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hệ thống luật chuyên ngành đã được ban hành để bảo vệ các nhóm này như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Trẻ em năm 2016.
  • Thực tiễn nhân khẩu học và tình hình tội phạm: Theo Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, dân số là phụ nữ tại Việt Nam là 48.923.000 người (chiếm 50,2% dân số); tính đến ngày 30/6/2019, cả nước có 24.733.000 trẻ em (chiếm 25,75% tổng dân số). Trên thực tế, NDBTT có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của các tội phạm xâm phạm tình dục, tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi. Đồng thời, khi NDBTT là người phạm tội, việc áp dụng đường lối xử lý và chính sách hình sự vẫn còn những điểm chưa bảo đảm sự ưu tiên tư pháp phù hợp.
  • Khoảng trống thực tiễn và lý luận: Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã có hiệu lực thi hành được 05 năm, bộc lộ một số quy định chưa đầy đủ, thiếu thống nhất trong áp dụng hoặc chưa tương thích hoàn toàn với các chuẩn mực quốc tế. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận riêng lẻ từng nhóm (như phụ nữ hoặc trẻ em) mà chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, hệ thống về NDBTT ở cả hai góc độ: đối tượng tác động (nạn nhân) và chủ thể của tội phạm.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ NDBTT bằng pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận để xây dựng khung lý thuyết về bảo vệ NDBTT bằng PLHS dưới góc độ đối tượng tác động và chủ thể của tội phạm; phân tích quy định của PLHS Việt Nam và thực tiễn áp dụng PLHS.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ NDBTT bằng PLHS.
    2. Phân tích quy định PLHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay, tập trung vào những quy định về bảo vệ NDBTT trong BLHS năm 2015.
    3. Đánh giá thực tiễn áp dụng PLHS về bảo vệ NDBTT bằng PLHS thông qua phân tích số liệu xét xử và khảo sát bản án.
    4. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ NDBTT bằng PLHS Việt Nam.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Cơ sở lý luận của việc bảo vệ NDBTT bằng PLHS?
    2. NDBTT được bảo vệ như thế nào trong PLHS Việt Nam từ lịch sử đến hiện tại?
    3. Thực tiễn bảo vệ NDBTT bằng PLHS được thực hiện như thế nào ở Việt Nam?
    4. Cần có những giải pháp nào để tăng cường bảo vệ NDBTT bằng PLHS?
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    1. Bảo vệ NDBTT bằng PLHS là thông qua xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật hình sự bảo vệ NDBTT khi họ là nạn nhân của tội phạm hoặc người phạm tội bằng nhiều phương thức khác nhau, có những chuẩn mực quốc tế quy định cụ thể.
    2. PLHS Việt Nam đã có những quy định bảo vệ NDBTT từ thời kỳ phong kiến đến nay, và qua mỗi lần pháp điển hóa lại được hoàn thiện.
    3. Thực tiễn bảo vệ NDBTT bằng PLHS đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được làm rõ.
    4. Những giải pháp mang tính hệ thống nhằm tăng cường bảo vệ NDBTT bằng PLHS trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và cơ sở hiến định cần được bổ sung, hoàn thiện đầy đủ hơn, bao gồm những giải pháp về hệ thống pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền của NDBTT bằng PLHS Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào bốn nhóm đối tượng có tính phổ biến gồm trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật. Các nhóm này được phân tích dưới hai tư cách pháp lý: đối tượng tác động (nạn nhân) và chủ thể của tội phạm. Luận án khảo sát các quy định pháp luật hình sự thực định qua các thời kỳ, trọng tâm là BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khảo sát 300 bản án hình sự thực tế.
    • Về thời gian: Nghiên cứu lịch sử lập pháp từ thời kỳ phong kiến đến nay; khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn 10 năm từ năm 2013 đến năm 2022.
    • Về không gian: Phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền con người và bảo vệ NDBTT trong lĩnh vực luật hình sự và tư pháp hình sự ở cả trong nước và quốc tế:

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về quyền con người trong luật hình sự và tư pháp hình sự:
    • Các công trình chuyên khảo tiêu biểu gồm: sách Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam do TS. Võ Thị Kim Oanh chủ biên (NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010); sách Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (NXB. Hồng Đức, 2015); sách Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự thực định Việt Nam do TSKH. Lê Cảm và TS. Nguyễn Trọng Điệp đồng chủ biên (NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 2021).
    • Sách chuyên khảo về các nhóm quyền cụ thể: Quyền sống và hình phạt tử hình do Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Trương Thị Hồng Hà đồng chủ biên (NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 2015); Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng pháp luật hình sự Việt Nam do PGS.TS. Trịnh Tiến Việt chủ biên (NXB. Tư pháp, 2015); Luận án tiến sĩ Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam của Nguyễn Thị Bình (2021).
    • Các bài báo khoa học nghiên cứu về chế tài và nội luật hóa chuẩn mực quốc tế của Nguyễn Văn Tuân (2009), Phan Anh Tuấn (2010), Ngô Văn Quyền (2016), Trịnh Tiến Việt (2014, 2016), Nguyễn Văn Lam (2015), Lê Thị Anh Đào (2020), Lê Văn Sua (2016), Lê Lan Chi (2017), Nguyễn Thị Ánh Hồng (2017).
  • Nghiên cứu chung về nhóm người dễ bị tổn thương:
    • Sách Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương (Khoa Luật - ĐHQGHN, 2010, 2011); sách Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự (Khoa Luật - ĐHQGHN, 2011); sách Bảo đảm quyền của nạn nhân tội phạm và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự... của TS. Lê Lan Chi (NXB. Lý luận chính trị, 2019).
    • Luận án tiến sĩ Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của Phạm Hùng Cường (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020).
    • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thùy Dung (2014), Nguyễn Thanh Bình (2015), Đinh Thị Ngọc Hà (2015); bài báo khoa học Bảo đảm quyền của người yếu thế trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay của Hoàng Minh Đức và Nguyễn Phan Trung Anh (2018).
  • Nghiên cứu về từng nhóm đối tượng cụ thể:
    • Về trẻ em: Luận án và sách chuyên khảo của Vũ Thị Phượng (2019, 2020); luận văn của Lê Thị Diễm Hằng (2016), Nguyễn Thành Long (2017), Nguyễn Thị Hương Giang (2017); bài báo của Trần Thị Quang Vinh (2010), Nguyễn Tiến Đức (2017), Nguyễn Phan Trung Anh (2018), Phạm Mạnh Hùng (2002), Nguyễn Thị Bình (2018); các báo cáo nghiên cứu của Bộ Tư pháp phối hợp UNICEF (2019) và ECPAT - Interpol - UNICEF (2022).
    • Về phụ nữ: Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hồng Lê (2016) và Hoàng Hương Thủy (2021); bài báo của Nguyễn Chí Công (2005), Dương Tuyết Miên (2006, 2009), Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2014), Phạm Văn Báu (2006), Đỗ Đức Hồng Hà (2009), Ngô Minh Ngọc (2009), Lê Thị Lan Phương (2013); báo cáo của UNODC và UN Women (2013).
    • Về người khuyết tật và người cao tuổi: Bài báo về năng lực trách nhiệm hình sự của Hồ Sỹ Sơn (2011), Nguyễn Ngọc Hòa (2014); bài viết về tình tiết người già yếu, phụ nữ có thai của Vũ Thành Long (2005), Nguyễn Văn Đức (2018).

Tình hình nghiên cứu nước ngoài

  • Về quyền con người trong luật hình sự: Công trình Crime, Justice and Human Rights của Leanne Weber, Elaine Fishwick, Marinella Marmo (2014); Crime and Human Rights của Joachim J. Savelsberg (2010); Criminal Punishment and Human Rights: Convenient Morality của Adnan Sattar (2019).
  • Về nhóm NDBTT và nạn nhân hóa: Bài viết của Vernon Van Dyke (1974), Peter Jones (1999); sách Group Rights as Human Rights của Neus Torbisco Casals (2006); sách The Insecurity State: Vulnerable Autonomy and the Right to Security in the Criminal Law của Peter Ramsay (2012); sách Victimizing Vulnerable Groups... của Charisse Tia Maria Coston (2004); sách Victim, Crime & Society của Pamela Davies, Peter Francis, Chris Greer (2007); sách Vulnerability in a Mobile World của Helen Forbes-Mewett (2019); các bài báo của R. Charli Carpenter (2005), Shen Shi-tao, Lourdes Peroni và Alexandra Timmer (2013).
  • Về các nhóm đối tượng cụ thể: Công trình về phụ nữ và trẻ em gái phạm tội của Meda Chesney-Lind và Lisa Pasko (2004, 2013), Elaine Gunnison, Frances P. Bernat và Lynne Goodstein (2017), Barbara Raffel Price và Natalie J. Sokoloff (2004), Susan Reid và Rebecca Bromwich (2019), Loraine Gelsthorpe (2015); công trình về tội phạm thù hận đối với người khuyết tật của Nick Coleman, Wendy Sykes, Alison Walker (2013), Alan Roulstone và Hannah Mason-Bish (2013), Linda Piggott (2011); công trình về nạn nhân hóa và lạm dụng người cao tuổi của Ezzat A. Fattah và Vincent F. Sacco (1989), Mike Brogden và Preeti Nijhar (2000), Lee S. Friedman và cộng sự (2017), Julien Chopin và Eric Beauregard (2018).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Thiếu tính toàn diện và hệ thống: Các công trình trong nước trước đây chỉ tập trung vào một số nhóm đối tượng riêng biệt (chủ yếu là phụ nữ hoặc trẻ em) hoặc phân tích dưới góc độ tố tụng hình sự, dân sự. Chưa có công trình nào nghiên cứu bao quát cả bốn nhóm NDBTT trọng tâm (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi) trong chuyên ngành luật hình sự.
  2. Chưa cân bằng hai vị thế pháp lý: Các nghiên cứu tại Việt Nam thường nghiêng về NDBTT là chủ thể phạm tội, trong khi nghiên cứu quốc tế thường tập trung vào nạn nhân. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát đồng thời cả hai tư cách: đối tượng tác động và người phạm tội.
  3. Thiếu đánh giá thực tiễn 05 năm thi hành BLHS năm 2015: Chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện kết quả và vướng mắc trong 05 năm áp dụng BLHS năm 2015 đối với NDBTT dựa trên nguồn dữ liệu thống kê xét xử toàn quốc giai đoạn 2013–2022 và phân tích 300 bản án thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

  • Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ con người, quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và củng cố pháp chế.
  • Cách tiếp cận: Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người (human rights-based approach / right-based approach), kết hợp tiếp cận đa ngành và liên ngành giữa khoa học luật hình sự, tội phạm học và xã hội học pháp luật.
  • Xác lập khái niệm NDBTT: Thuật ngữ vulnerability có nguồn gốc từ tiếng La-tinh vulnus (tổn thương), được chuyển ngữ sang tiếng Anh vào đầu thập niên 1960 và phổ biến trong các văn kiện nhân quyền quốc tế từ cuối thập niên 1980. Dưới góc độ xã hội học, NDBTT mang hai đặc tính cốt lõi: sự tổn thương (thường xuyên đối mặt với các mối đe dọa) và sự thiếu bền vững (thiếu nguồn lực cá nhân, tâm lý, kinh tế, xã hội để phòng ngừa, chống chịu và phục hồi). Tại Việt Nam, văn bản luật duy nhất có định nghĩa thuật ngữ này là khoản 4 Điều 3 Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013, tuy nhiên mang tính chất chuyên ngành hẹp. Luận án xác định nội hàm NDBTT trong luật hình sự gồm bốn nhóm: trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật.
  • Khung phương thức bảo vệ bằng PLHS: Tác giả phân tích bốn phương thức bảo vệ chính gồm: (1) Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa; (2) Hình sự hóa và phi hình sự hóa; (3) Áp dụng pháp luật hình sự; (4) Kiểm soát lập pháp hình sự và kiểm soát áp dụng pháp luật hình sự.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết: Sử dụng tại Phần Tổng quan và Chương 1 nhằm phân tích các quan điểm học thuật, chuẩn mực quốc tế, xây dựng khái niệm, cơ sở và phương thức bảo vệ NDBTT.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử và so sánh quy phạm: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích quá trình lập pháp hình sự Việt Nam từ thời phong kiến, giai đoạn 1945–1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đến BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Phương pháp thống kê và khảo sát thực chứng: Sử dụng tại Chương 3 để thu thập, xử lý số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp từ năm 2013 đến năm 2022; đồng thời phân tích thực tế 300 bản án hình sự có nạn nhân hoặc người phạm tội là NDBTT.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, các bộ luật hình sự, các luật chuyên ngành).
  • Các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên (UNCRC, CEDAW, CRPD, ICCPR...).
  • Báo cáo số liệu nhân khẩu học chính thức (Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019; Báo cáo giám sát của Quốc hội khóa XIV năm 2020).
  • Số liệu thống kê công tác xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2013–2022.
  • Hồ sơ dữ liệu gồm 300 bản án hình sự thực tế được tổng hợp tại Phụ lục 5 và Phụ lục 6 của luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự

  • Khái niệm và đặc điểm bảo vệ NDBTT bằng PLHS (Tiết 1.1): Luận án phân tích thuật ngữ NDBTT từ các góc độ xã hội học, tố tụng hình sự và luật nhân quyền quốc tế; xác lập 4 nhóm NDBTT trọng tâm trong luật hình sự (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi) gắn với hai tư cách: nạn nhân (đối tượng tác động) và chủ thể của tội phạm. Bảo vệ NDBTT bằng PLHS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, kết hợp trừng trị hành vi xâm hại và bảo đảm quyền con người thông qua việc đối xử khoan hồng, nhân đạo đối với người phạm tội yếu thế.
  • Cơ sở bảo vệ NDBTT bằng PLHS (Tiết 1.2): Được luận chứng trên ba bình diện:
    • Cơ sở lý luận: Bắt nguồn từ giá trị phổ quát về quyền con người, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa và chức năng bảo vệ xã hội của PLHS.
    • Cơ sở pháp lý: Quy định tại Hiến pháp năm 2013, các luật chuyên ngành bảo vệ trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, bình đẳng giới và các điều ước quốc tế.
    • Cơ sở thực tiễn: Quy mô dân số đông đảo của nhóm NDBTT và tính chất dễ bị tổn thương trước các hành vi phạm tội xâm hại thể chất, tình dục, mua bán người trong đời sống xã hội.
  • Phương thức bảo vệ NDBTT bằng PLHS (Tiết 1.3): Làm rõ cơ chế vận hành của 4 phương thức: Tội phạm hóa/phi tội phạm hóa; Hình sự hóa/phi hình sự hóa; Áp dụng pháp luật hình sự đúng đắn; Kiểm soát lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự.
  • Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ NDBTT bằng PLHS (Tiết 1.4): Phân tích hệ thống tiêu chuẩn quốc tế chia thành hai nhóm quyền:
    • Nhóm quyền của NDBTT là nạn nhân của tội phạm (quyền được bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, an toàn tình dục, quyền tiếp cận công lý và bồi thường thiệt hại).
    • Nhóm quyền của NDBTT là người phạm tội (nguyên tắc xử lý khoan hồng, hạn chế áp dụng hình phạt tù và tử hình, các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, người khuyết tật tâm thần).

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về bảo vệ người dễ bị tổn thương

  • Lịch sử PLHS Việt Nam về bảo vệ NDBTT (Tiết 2.1): Luận án khái quát truyền thống pháp luật nhân đạo từ thời phong kiến (như các quy định khoan hồng trong Bộ luật Hồng Đức) qua các giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 đối với cả NDBTT là nạn nhân và NDBTT là người phạm tội.
  • Quy định của BLHS năm 2015 về bảo vệ NDBTT (Tiết 2.2): Phân tích các quy phạm hình sự thực định theo hai nhóm:
    • Bảo vệ NDBTT là nạn nhân của tội phạm: Hệ thống các tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng giới (Điều 165), các tội xâm phạm tình dục (hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm, dâm ô đối với người dưới 16 tuổi...), các tội mua bán người và mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 150, Điều 151), tội giết con mới đẻ (Điều 124). Phân tích các tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) khi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng.
    • Bảo vệ NDBTT là người phạm tội: Chính sách phân hóa TNHS; các trường hợp loại trừ TNHS (tình trạng không có năng lực TNHS do mắc bệnh tâm thần); các quy định giảm nhẹ TNHS; chế định áp dụng hình phạt và miễn hình phạt riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội; chính sách không áp dụng hình phạt tử hình hoặc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi và người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (Điều 40); chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện; biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 49).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và các giải pháp tăng cường bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự Việt Nam

  • Thực tiễn áp dụng PLHS giai đoạn 2013–2022 (Tiết 3.1): Luận án đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua hệ thống 13 bảng số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp và 02 biểu đồ phân tích, kết hợp khảo sát 300 bản án.
Ký hiệu bảng Nội dung bảng thống kê số liệu xét xử trong luận án Giai đoạn thống kê
Bảng 3.1 Thống kê xét xử sơ thẩm vụ án và bị cáo về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 130 BLHS 1999) và tội xâm phạm bình đẳng giới (Điều 165 BLHS 2015) 2013–2017 và 2018–2022
Bảng 3.2 Thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án về các tội xâm hại đến quyền tự do và an toàn tình dục của Tòa án các cấp 2013–2017
Bảng 3.3 Thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án về các tội xâm hại đến quyền tự do và an toàn tình dục của Tòa án các cấp 2018–2022
Bảng 3.4 Thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về các hành vi mua bán người tại Việt Nam 2013–2017
Bảng 3.5 Thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về các hành vi mua bán người tại Việt Nam 2018–2022
Bảng 3.6 Thống kê xét xử sơ thẩm các bị cáo là phụ nữ tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.7 Hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo phạm tội giết con mới đẻ tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.8 Số vụ án và số bị cáo là trẻ em bị xét xử tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.9 Hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo là trẻ em tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.10 Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo là trẻ em tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.11 Biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với bị cáo là trẻ em được miễn TNHS 2018–2022
Bảng 3.12 Thống kê biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng tại Việt Nam 2013–2022
Bảng 3.13 Thống kê số người từ 75 tuổi trở lên phạm tội tại Việt Nam 2018–2022
  • Phân tích biểu đồ thống kê trong luận án:
    • Biểu đồ 3.1: Thể hiện diễn biến số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các hành vi mua bán người tại Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2022.
    • Biểu đồ 3.2: Thể hiện biến động số vụ án và số bị cáo là trẻ em bị xét xử tại Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2022.
  • Nguyên nhân hạn chế, vướng mắc (Tiết 3.1.3): Tác giả chỉ ra nguyên nhân từ sự thiếu đồng bộ của các văn bản hướng dẫn áp dụng PLHS, nhận thức chưa thống nhất về một số tình tiết định tính (như "người già yếu", "tình trạng quẫn bách"), rào cản về cơ sở vật chất giám định tâm thần và năng lực chuyên môn của một bộ phận người tiến hành tố tụng.
  • Hệ thống giải pháp tăng cường bảo vệ NDBTT (Tiết 3.2):
    • Hoàn thiện pháp luật hình sự: Đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều khoản trong BLHS năm 2015 liên quan đến bảo vệ NDBTT (được chi tiết hóa tại Bảng tổng hợp Phụ lục 4).
    • Hoàn thiện pháp luật chuyên ngành về NDBTT: Đồng bộ hóa các quy định của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới tương thích với PLHS và chuẩn mực quốc tế.
    • Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự: Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết liên quan đến NDBTT; nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên; cải tiến hoạt động giám định pháp y tâm thần và quy trình xử lý tố tụng thân thiện.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn cụ thể:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về bảo vệ NDBTT bằng PLHS Việt Nam, làm rõ nội hàm khái niệm NDBTT trong khoa học luật hình sự bao gồm bốn nhóm phổ biến: trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi.
  • Luận giải cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc bảo vệ NDBTT; xác định rõ 4 phương thức bảo vệ bằng công cụ hình sự và đối chiếu với hệ thống chuẩn mực nhân quyền quốc tế ở cả hai tư cách: nạn nhân và người phạm tội.

Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp

  • Hệ thống hóa và so sánh toàn diện sự phát triển của các quy phạm hình sự bảo vệ NDBTT qua các bản BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 (Phụ lục 1, Phụ lục 2 và Phụ lục 3).
  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án liên quan đến NDBTT trong giai đoạn 10 năm (2013–2022) và 05 năm đầu áp dụng BLHS năm 2015 thông qua 13 bảng số liệu thống kê của Tòa án các cấp và dữ liệu khảo sát 300 bản án (Phụ lục 5 và Phụ lục 6).
  • Xây dựng Bảng tổng hợp kiến nghị đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều khoản của BLHS năm 2015 (Phụ lục 4) và các giải pháp hoàn thiện pháp luật chuyên ngành, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi đối tượng: Do khái niệm NDBTT trong xã hội học và luật quốc tế có nội hàm rất rộng (bao gồm cả người di cư, người tị nạn, người thiểu số, người nhiễm HIV, người đồng tính/chuyển giới...), trong khuôn khổ luận án, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu chuyên sâu ở 4 nhóm đối tượng có tính phổ biến nhất trong thực tiễn PLHS Việt Nam là trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu bảo vệ bằng PLHS đối với các nhóm NDBTT đặc thù khác trong bối cảnh di biến động dân cư và hội nhập quốc tế; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp liên ngành giữa pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự nhằm bảo đảm chu trình tư pháp khép kín đối với NDBTT.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật (Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao): Kết quả nghiên cứu và Bảng tổng hợp đề xuất sửa đổi BLHS năm 2015 (Phụ lục 4) là nguồn tài liệu tham khảo để hoàn thiện các quy định hình sự và ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết liên quan đến NDBTT.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Cung cấp các luận cứ về chuẩn mực quốc tế và nhận diện vướng mắc thực tiễn để định tội danh, lượng hình và áp dụng các chính sách miễn, giảm TNHS đúng pháp luật và bảo đảm quyền con người của NDBTT.
  • Đối với các cơ sở đào tạo, giảng viên và học viên ngành luật: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng với 13 bảng số liệu thống kê giai đoạn 2013–2022 và danh mục 300 bản án hình sự mẫu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định những nhóm đối tượng cụ thể nào thuộc diện người dễ bị tổn thương?
Luận án giới hạn nghiên cứu bốn nhóm người có tính phổ biến và nhận được sự bảo vệ trọng tâm trong PLHS Việt Nam, bao gồm: trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi. Bốn nhóm này được phân tích đồng thời dưới hai tư cách: nạn nhân của tội phạm và người phạm tội.

2. Các phương thức bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự gồm những gì?
Tác giả xác định 4 phương thức bảo vệ bằng PLHS gồm: (1) Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa; (2) Hình sự hóa và phi hình sự hóa; (3) Áp dụng pháp luật hình sự; (4) Kiểm soát lập pháp hình sự và kiểm soát áp dụng pháp luật hình sự.

3. Nguồn dữ liệu thực tiễn và phạm vi thời gian khảo sát của luận án được thực hiện như thế nào?
Luận án khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn 10 năm từ năm 2013 đến năm 2022 thông qua 13 bảng số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp và phân tích dữ liệu thực tế từ 300 bản án hình sự (chia thành nhóm nạn nhân và nhóm người phạm tội là NDBTT).

4. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ NDBTT theo những nhóm nào?
Hệ thống giải pháp được phân chia thành ba nhóm chính: (1) Hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015 (được lập thành Bảng đề xuất cụ thể tại Phụ lục 4); (2) Hoàn thiện pháp luật chuyên ngành về NDBTT (Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới); (3) Nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng.

5. Luận án có những phụ lục nghiên cứu nào đáng chú ý?
Luận án xây dựng 6 phụ lục: Phụ lục 1 so sánh quy định bảo vệ NDBTT là nạn nhân qua BLHS 1985, 1999, 2015; Phụ lục 2 so sánh quy định đối với NDBTT là người phạm tội qua 3 bộ luật; Phụ lục 3 so sánh quy định có lợi cho trẻ em phạm tội với người từ đủ 18 tuổi trở lên; Phụ lục 4 là Bảng tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung BLHS 2015; Phụ lục 5 tổng hợp bản án có nạn nhân là NDBTT; Phụ lục 6 tổng hợp bản án có người phạm tội là NDBTT.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Diễm Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về vấn đề bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp cận quyền con người. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận, phân tích lịch sử lập pháp và đánh giá thực trạng áp dụng BLHS năm 2015 qua 13 bảng số liệu thống kê xét xử giai đoạn 2013–2022 cùng 300 bản án thực chứng. Công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật chuyên ngành và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ nhóm người yếu thế trong xã hội.