CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm: Tổ chức thương mại thế giới WTO: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quan lý tài sản đó. Phương điện quán lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khá _ Trong phân lớn trường hợp, cá nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quán lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đâu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ” và các tài sản được gọi là "công ty con” hay "chi nhánh công ty" Theo Luật Đầu tư Việt Nam cho răng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư đo nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất ky tài sản nào vào quốc gia khác để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiếm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia này, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Có thể tổng kết lại, hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư ở một nước khác bằng tiền hoặc tai san từ các nhà đầu tư ở một quốc gia khác, đồng thời có quyền sở hữu, quán lý và quyền kiểm soát tài sản ở quốc gia đó.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống các biện pháp mà chính quyền của một quốc gia thực hiện để hấp dẫn các nhà đầu tư từ nước ngoài đem nguồn vốn và công nghệ vào quốc gia dé tổ chức thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận hoặc lợi ích lớn hơn so với đầu tư tại quốc gia xuất phát của họ. Một số lý thuyết về các yếu tổ tác động đến thu hút FDI Lý thuyết về xuất khẩu tư bản của V. Lê nin, mục đích của xuất khẩu tư bản là tìm kiếm nơi đầu tư đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và thu được nhiều lợi nhuận nhất. Sự xuất hiện hiện tượng thừa tương đối tư bản đã khiến các nhà tư bản đưa nguồn vốn ra nước ngoài để tối đa hóa thặng dư và lợi nhuận.
Các nhà tư bản sẽ lựa chọn đầu tư vốn vào các quốc gia nơi có những điều kiện tài nguyên phong phủ, lao động gia ré, thị trường tiêu thụ mới. từ đó đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với việc đầu tư tài chính quốc. ó thế thấy FDI không chỉ có lợi cho nhà đầu tư mà nước nhận 8 được đầu tư cũng thu được nhiều lợi ích như giám ty lệ thất nghiệp, tăng tông sản phẩm quốc nội. Như vậy, theo quan điểm của V.
Lênin, yếu tố căn cốt nhất tác động tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia đó là lợi ích thu được từ việc đầu tư. Khi lợi ích tại nước nhận đầu tư lớn hơn lợi ích thu được so với đầu tư tại chính quốc thì lượng tư bản thừa tương đối sẽ được đem đến đề đầu tư tại đó thay vì đầu tư tại chính quốc. Lý luận này của V. Lênin vạch ra bản chất sâu xa nhất của việc thu hút đầu tư và đầu tư trực tiếp THƯỚC Lý thuyết về hành vi đầu tư của tác giả Romer (1986) Các nghiên cứu lý thuyết về hành vi đầu tư của tác gia Romer (1986) cho thay, hanh vi của nhà đầu tư chịu tác động trực tiếp bởi: (1) sự thay đổi trong nhụ cầu; (11) lãi suất; (11) mức độ rién cua hé thống tài chính; (iv) đầu tư công; (v) nguồn nhân lực; (vi) các đự án đầu tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành có mối liên kết; (vii) tình hình phát triển công nghệ, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ; (v11) mức độ ổn định của môi trường đầu tư; (ix) cac quy định về thủ tục và (x) mức độ đầy đủ về thông tin.
Như vậy có thé thay, dé thu hút được các nhà đầu tư FDI dựa vào rất nhiều yếu t6 đến từ chính sách kinh tế và môi trường đầu tư tại nước chủ nhà. Các nhà hoạch định chiến lược cần phải cân nhắc suy xét sự phụ thuộc tương quan giữa các yêu tố đề đưa ra chính sách kinh tế phù hợp đề tăng thu hút FDI. Lý thuyết tiếp cận vi mô của Kojima Theo Kojima động cơ để các nhà đầu tư đầu tư vốn ra nước ngoài gồm có bốn loai: (i) dé tìm kiếm tài nguyên thiên nhién, (ii) dé tan dung loi thé chi phi lao động giá rẻ ở nước sở tại, (iii) dé tranh thué quan va hang rao phi thué quan va (iv) để tận đụng sức mạnh độc quyên. Tat cả các động cơ trên đều hướng đến chung một mục đích là tối đa hóa lợi nhuận cho nguồn vốn bỏ ra.
Và để đạt được mục đích nhà đầu tư đã xem xét, chợn lọc rất nhiều yếu tế chủ quan, khách quan của môi trường đầu tư nước ngoài để đưa ra quyết định. Dựa trên lý thuyết của Kojima, nếu muốn thu hút được đầu tư, nước sở tại cần trau dôi, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ban hành những thế chế chính sách tạo môi trường đầu tư thuận lợi về thuế quan, đề xuất lợi ích mang lại cho nhà đầu tư dé thu hút được FDI. Lý thuyết về tỷ suất lợi nhuận cận biên tác động đến thu hút FDI ougall cho rằng vốn FDI sẽ chuyên từ nước có lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau). Kết quả của hoạt động đầu tư là cá hai nước đều kiếm về lợi nhuận và làm tăng sản lượng chung của thế ĐIỚI SO VỚI trước lúc đầu tư.
Một cách lý giải khác của Richarch S.Echaus cho rằng sự xuất hiện của của FDI là do mục đích tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu. Ông cho rằng, khi chính quốc dư vốn và có hiệu quá sử dụng vốn thấp, dé tái sản xuất thặng dư, dòng vốn ấy sẽ được đem đâu tư đến những nước có hiệu quá sử dụng vốn cao do thiếu vốn. Dòng vốn lưu động giữa các quốc gia chính là do sự chênh lệch giữa hiệu quả sử dụng vốn giữa các quốc gia Lý thuyết chiết trung của Dunning (1993) Mô hình chiết OLI của Dunning (1993) đã xây dựng, tông hợp và kế thừa rất nhiều những ưu điểm từ các học thuyết khác về FDI, đồng thời đưa ra được cách lý giải khả quan nhất về các yêu tổ tác động đến thu hút FDI. Cụ thế, để thu hút được FDI phụ thuộc vào ba yé tố cơ bản bao gồm: (1) Loi thé về sở hữu (O_ Ownership Advantages): Các công ty xuyên quốc gia sẽ đầu tư ra nước ngoài nêu họ có được lợi thế độc quyền như ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, marketing, khả năng tiếp cận nguồn vốn với chỉ phí thấp.
so với công ty ở nước nhận được đầu tư. (2) Loi thé vé dia diém (L_ Location Advantage) ngoai cac yéu tố về nguồn lực, tài nguyên của đất nước (yếu tố phi chính sách khó điều chỉnh) còn có các yếu tô về kinh tế xã hội như quy mô thị trường và sự tăng trưởng và phát triển của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tang, van hóa, pháp luật, thế ché và chính sách của Chính phủ là những yếu té then chét dé nha đầu tư quyết định di chuyên đòng vốn ra quốc té. Vi thế Nhà nước có thể linh hoạt điều chỉnh chính sách kinh tế phù hợp để tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút FDIL (3) Lợi thế về nội hóa (I_ Internalisation Advantages) bao gồm: Bán thân công ty có thê linh hoạt điều chỉnh, thỏa thuận chính sách, kiểm soát và thực hiện hợp đồng. uyết chiết trung thì cá 3 điều kiện kế trên đều phái được thỏa mãn đối với các nước muốn thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong đó, lợi thế về sở hữu và lợi thế về nội bộ hóa là những yếu tố do phía nhà đầu tư nước ngoài quyết định là yếu tố “day”, con lợi thế địa điểm là yếu tổ phụ thuộc vào nước chủ nhà yếu tổ “kéo” đối với FDI. Xét từ góc độ của nước chủ nhà, lợi thế địa điểm là yếu tố mà nước chủ nhà có thê điều chỉnh, định hướng đề đạt được hiệu quả thu hút FDI. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút FDI Khi tiến hành đầu tư FDI, các nhà đầu tư thường cân nhắc, phân tích rất nhiều yếu tố để đưa ra quyết định hiệu quá giúp tối đa hóa lợi nhuận, chủ yếu xem xét trên ba phương diện 10 chính: Môi trường đầu tư nước ngoài (môi trường đầu tư của nước chủ nhà), môi trường đầu tư kinh doanh ở nước đầu tư và môi trường đầu tư quốc tế. Môi trường đầu tư nước ngoài: Môi trường đầu tư nước ngoài đóng vai trò then chốt trong việc thu hút FDI, là yếu tổ “kéo” tạo ra lợi thế về địa diém (Location Advantage) dé thu hút được đầu tư FDI theo mô hình OLI của Dunning.
Chiến lược thu hút vốn đề phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế của đất nước có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI vào địa phương. Đó là những cam kết thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư của nước chủ nhà, những định hướng dài hạn về chính sách mở cửa thu hút vốn, định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư nước Việc định hướng chiến lược thu hút có ý nghĩa quan trọng nhằm thiết lập các điều kiện để thu hút cho phù hợp. Các địa phương khác nhau ngoài chiến lược thu hút tổng thê của quốc gia sẽ có định hướng, chính sách và mục tiêu riêng đề thu hút vốn FDI phát triển KT XH của địa phương đó. Ôn định về môi trường kinh tế vĩ mô Ôn định về chính trị : Khi tình hình chính trị ôn định thì các cam kết về sở hữu vốn, những chính sách ưu đãi khi đầu tư và định hướng phát triển sử dụng vốn mà nước chủ nhà cam kết với nhà đầu tư mới được đảm bảo.
Khi đầu tư ở một môi trường mới, với lượng vốn đầu tư cao, thời gian hoàn vốn lâu nên nhà đầu tư phải lựa chọn để tối thiểu hóa rủi ro bằng cách lựa chọn một môi trường có chính phủ minh bạch, an toàn, ổn định để không bị lỗ vốn.