chương 1 bằng việc trình bày cấu trúc tổng thể và tóm tắt nội dung chính của từng chương của bài nghiên cứu, bao gồm 5 chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ CBTT VÀ SỰ MINH BẠCH TRONG CBTT 2. Khái niệm và quy định chung về CBTT 2.
Khái niệm về CBTT Công bố thông tin là hoạt động công khai truyền đạt các thông tin liên quan đến hoạt động, tình hình tài chính và những vấn đề quan trọng của các doanh nghiệp, tổ chức hay các nhân tới các bên liên quan như NĐT, đối tác, khách hàng. Mục đích CBTT nhằm đảm bảo tính minh bạch, đáp ứng nhu cầu pháp lý và tạo niềm tin đối với các bên liên quan của DN. Có các loại công bố thông tin bao gồm: Công bố thông tin tài chính: DN sẽ công bố những thông tin liên quan đến kết quả kinh doanh, BCTC hàng quý, hàng năm, tài sản, nợ, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Công bố thông tin quản trị: bao gồm các cơ cấu về ban tổ chức, lãnh đạo của DN.
Công bố thông tin sự kiện: như thông tin về việc thay đổi chức vụ trong bộ máy lãnh đạo, thông tin sáp nhập hay chiến lược kinh doanh trong quý, năm. Quy định chung về CBTT Căn cứ vào Luật Chứng khoán 2019, Luật Doanh nghiệp 2020, Nghị định số 87/2017/NĐ-CP 2017 của chính phủ. Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn CBTT trên TTCK, được áp dụng đối với các đối tượng sau: Công ty đại chúng; Tổ chức phát hành trái phiếu và thực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu của DN ra công chúng; Tổ chức niêm yết trái phiếu DN; CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; chi nhánh công ty chứng khoán 12 nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng đại diện CTCK và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; NĐT thuộc đối tượng CBTT theo quy định pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động CBTT trên TTCK.
Về nguyên tắc CBTT, thông tin cần phải được công bố đầy đủ, chính xác, kịp thời, minh bạch và công bằng. Thông tin khi công bố cần phải đảm bảo yếu tố đầy đủ, đó là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc CBTT. Nguyên tắc này yêu cầu DN cung cấp các đầy đủ dữ liệu để tiến hành phân tích và đánh giá chính xác về mối quan hệ của số liệu và các yếu tố khác nhau, một khi thiếu một trong các số liệu hoặc yếu tố thì có thể sẽ cho ra các kết quả khác nhau. Thông tin phải được công bố chính xác.
Nguyên tắc này đòi hỏi các chủ thể DN khi tiến hành CBTT cần phải trung thực, và khách quan, phải phản ánh chính xác bản chất của sự kiện. Cần phải tránh việc CBTT không có thật hoặc thông tin sai lệch. Tất cả thông tin được công khai phải phản ánh đúng tình hình thực tế của DN. Thông tin không chính xác có thể dẫn đến sự hiểu lầm và gây thiệt hại cho các bên liên quan của DN.
Để đảm bảo tính chính xác của thông tin khi công bố, văn bản pháp luật yêu cầu DN cần phải kiểm tra bởi các bên uy tín có thẩm quyền như các CTKT để xác nhận thông tin chính xác trước khi công bố. Thông tin phải được cập nhật và phát hành kịp thời và không bị trì hoãn để các bên liên quan có thể đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu mới nhất. Nếu chậm trễ trong việc CBTT làm giảm giá trị của thông tin và có thể gây ảnh hưởng đến sự nhanh chóng khi đưa ra quyết định của NĐT. Thông tin công bố phải minh bạch, có nghĩa là thông tin cần phải được trình bày rõ 13 ràng, không gây nhầm lẫn.
Khi trình bày thông tin tránh sử dụng quá nhiều thuật ngữ chuyên ngành, cần sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, đưa ra giải thích bổ sung hoặc chú thích nếu cần thiết để làm rõ thông tin. Tính minh bạch đảm bảo Thông tin công bố còn phải dựa trên nguyên tắc công bằng, đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đến DN gồm: NĐT, cổ đông, ban lãnh đạo đều có cơ hội tiếp cận thông tin một cách công bằng và không bị thiên lệch 2. Các quy định chung về việc CBTT của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. CBTT định kỳ của DN Theo Thông tư 96/2020/TT-BTC, các công ty đại chúng trên TTCK phải tuân thủ những yêu cầu cụ thể về CBTT định kỳ như sau: DN cần công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán được chấp thuận, với các nguyên tắc như sau: Báo cáo phải bao gồm đầy đủ các phần, phụ lục và thuyết minh theo quy định của pháp luật về kế toán DN Cần công bố cả báo cáo kiểm toán cùng văn bản giải trình nếu ý kiến kiểm toán không hoàn toàn chấp nhận.
Thời hạn công bố là trong vòng 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo, nhưng không quá 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính. Đối với thông tin về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, doanh nghiệp phải công bố ít nhất 21 ngày trước khi cuộc họp diễn ra, trên trang thông tin điện tử của DN, cũng như của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán. Ngoài ra, DN cũng cần CBTT về báo cáo tình hình quản trị DN trong vòng 30 ngày kể từ khi kết thúc 6 tháng đầu năm và kết thúc năm dương lịch. CBTT bất thường của DN CBTT bất thường của công ty đại chúng trên TTCK theo Điều 11 Thông tư 14 96/2020/TT-BTC như sau: Tài khoản của DN bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa.
Nhận được văn bản từ cơ quan nhà nước hoặc có quyết định về tạm ngừng hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký DN, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký DN. Sửa đổi, bổ sung hoặc bị đình chỉ, thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động. Đại hội đồng cổ đông của DN thông qua các quyết định bất thường. Hủy niêm yết, mua lại và phát hành thêm cổ phiếu; thực hiện quyền mua cổ phần của người sở hữu hay chuyển đổi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi.
Thay đổi, bổ nhiệm hay bãi nhiệm thành viên nội bộ. Công ty phải tiến hành CBTT bất thường trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xảy ra các sự kiện trên. CBTT theo yêu cầu của DN CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng trên TTCK theo Điều 12 Thông tư 96/2020/TT-BTC như sau: DN phải CBTT trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoặc Sở giao dịch chứng khoán nơi DN niêm yết, đăng ký giao dịch, trong hai trường hợp sau: Sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của NĐT; Thông tin liên quan đến DN tác động lớn đến giá chứng khoán và cần được xác nhận. Nội dung công bố theo yêu cầu phải rõ ràng về sự kiện mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán yêu cầu bao gồm nguyên nhân, đánh giá của DN về tính xác thực của sự kiện đó, cùng với các giải pháp khắc phục (nếu có).
CBTT về các hoạt động khác của DN CBTT về các hoạt động khác của công ty đại chúng trên TTCK theo Điều 13 Thông tư 96/2020/TT-BTC như sau: Thực hiện CBTT liên quan đến các hoạt động niêm yết, phát hành, chào bán, đăng ký giao dịch và báo cáo sử dụng vốn theo quy định pháp luật. Cung cấp thông tin về tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa và các thay đổi liên quan trên các kênh thông tin chính thức. Thông báo về các giao dịch mua lại cổ phiếu của DN và bán cổ phiếu quỹ theo quy định. Trường hợp tổng giá trị tài sản giảm hơn 10% sau khi mua lại cổ phiếu, DN phải thông báo cho tất cả chủ nợ và CBTT trong vòng 15 ngày.
Khái niệm về sự minh bạch trong CBTT và tầm quan trọng của minh bạch CBTT 2. Khái niệm về sự minh bạch Minh bạch trong tiếng Anh gọi là transparency, được hiểu là đảm bảo sự rõ ràng, công khai suốt trong quá trình đưa ra quyết định và thực thi chính sách. Nó có nghĩa là những thông tin, dữ liệu, quy trình và lý do đưa ra các quyết định được lan truyền một cách rộng rãi, dễ tiếp cận với mọi đối tượng. Trong thực tế, minh bạch còn có thể được hiểu theo nghĩa với mức độ rộng hơn là sự bình đẳng, không phân biệt đối xử trong việc tiếp cận thông tin.
Tức là mọi đối tượng, bất kể địa vị, nguồn gốc hay quan điểm, đều có cơ hội được tham gia trao đổi, chia sẻ quan điểm một cách thẳng thắn, trung thực về các chính sách và quyết định. Khái niệm về sự minh bạch trong việc CBTT Từ những luận điểm về sự minh bạch ở trên, tác giả đã đưa ra định nghĩa cho sự minh bạch trong CBTT như sau: là yếu tố thành phần cơ bản, là nền tảng then chốt để phát triển vững chắc thị trường chứng khoán. Thông tin được đưa ra bởi các chủ thể niêm yết, 16 công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, sở giao dịch chứng khoán) đến thị trường cho các đối tượng tiếp nhận và những thông tin này phải đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy. Ý thức được mức độ quan trọng của MBTT khi công bố, các bên quản lý thị trường luôn chú trọng đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng của các thông tin công bố.
MBTT chính là thể hiện ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng cổ đông, nhà đầu tư, đồng thời khẳng định được tính chuyên nghiệp, nâng cao uy tín và hình ảnh và gia tang giá trị của doanh nghiệp trên thị trường. Tại Việt Nam, các quy định đảm bảo MBTT đã được thể hiện cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật và được thực thi thông qua việc phát hiện và xử lý các vi phạm trên TTCK 2. Tầm quan trọng của minh bạch CBTT Thị trường chứng khoán là một môi trường khá nhạy cảm, nó phụ thuộc rất nhiều vào thông tin. Những ai nắm giữ lợi thế về thông tin sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc đầu tư thành công.