CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các lý thuyết về KTQT; các lý thuyết nền liên quan đến nội dung nghiên cứu và mối quan hệ giữa các lý thuyết này với nội dung nghiên cứu của luận văn. KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân.
Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức) Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước. Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn. Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ). - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
Ví dự như: Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Quy Nhơn là đơn vị thuộc Bộ Lao động thương binh và xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập, trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong Quy Nhơn trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Định. Bệnh viện đa khoa thành phố Quy Nhơn trực thuộc Sở Y tế Thành phố Quy Nhơn…Các đơn vị nghiên cứu, sự nghiệp (nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trường, viện nghiên 14 cứu)… Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành… 1. Tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại: - Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; - Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; - Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; - Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm: Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
Và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Tiêu chí phân loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính. Mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự. Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, đơn vị sự nghiệp công lập có thể chia thành 5 loại sau: - Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; - Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; - Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; - Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; - Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Trong đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; 15 báo; tạp chí. Trung tâm thông tin hoặc tin học. Trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện).
Và các đơn vị sự nghiệp công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Kế toán quản trị KTQT ra đời và phát triển trên thế giới có thể đánh dấu từ đầu thế kỷ thứ 19, và cơ bản có thể chia làm 4 giai đoạn như sau [11]: - Giai đoạn trước những năm 1950: KTQT ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm soát tài chính. Các kĩ thuật kế toán được sử dụng là dự toán và kế toán chi phí.
Tuy nhiên, hoạt động KTQT mới dừng lại ở mức độ hoạt động chuyên môn thuần túy mang tính nghiệp vụ, kĩ thuật. - Giai đoạn từ sau năm 1950 đến đầu năm 1965: trọng tâm của KTQT là lợi nhuận. KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thực hiện chức năng hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Về mặt kĩ thuật, KTQT đi sâu vào việc phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trị các cấp trong những tổ chức có phân cấp trong quản lý.
- Giai đoạn từ sau năm 1965 đến 1985: KTQT tập trung cắt giảm hao phí nguồn lực thông qua chiến lược quản trị chi phí. Kĩ thuật kế toán được phát triển giai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí. Hoạt động KTQT giai đoạn này là hoạt động theo nhóm. - Giai đoạn từ 1995 đến nay: quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị thông qua việc quản trị nguồn lực chiến lược và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Kĩ thuật kế toán tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức. Hoạt động KTQT được xem là một bộ phận của quá trình quản trị 16 Bảng 1. Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị Trọng tâm của Các kĩ thuật Vị trí của KTQT Giai đoạn KTQT KTQT trong tổ chức Chi phí: xác định Hoạt động mang Trước những Dự toán và kế chi phí và kiểm tính chuyên môn, năm 1950 toán chi phí soát tài chính nghiệp vụ Lợi nhuận: cung Phân tích quyết Chức năng tham cấp thông tin cho Từ 1950 - 1965 định và kế toán mưu, báo cáo cho hoạch định và trách nhiệm quản lý kiểm soát Cắt giảm hao phí: Phân tích quá tiết kiệm chi phí trình và quản trị Từ 1965 - 1985 thông qua việc Hoạt động nhóm chi phí đương quản trị chi phí đại chiến lược Quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị: tạo Phân tích các ra giá trị thông yếu tố giá trị quan quản trị Là một phần của Từ 1985 - 1995 khách hàng, giá nguồn lực chiến quá trình quản trị trị cổ đông và lược – sử dụng cải cách tổ chức hiệu quả các nguồn lực (Nguồn: Trần Ngọc Hùng (2016)) Như vậy, quá trình phát triển của KTQT được ghi nhận theo 4 giai đoạn. Tuy nhiên, việc phân chia như vậy chỉ mang tính tương đối, thực ra, sự phát triển của KTQT có sự chuyển hóa và hòan thiện dần từ giai đoạn này đến giai 17 đoạn khác.
Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toán đối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hòan thiện, phát triển đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại. Cũng như theo xu thế phát triển chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí. Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác.
Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ. Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau.Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân làm hai cách [11]: - Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng. Các doanh nghiệp thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiện cho tương lai. Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác.
Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này - Thứ hai: dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó. Phương pháp lập kế hoạch này thường được vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ. Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được.
18 Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp. KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng (Phạm Quang Thịnh, 2018). Khái niệm về Kế toán quản trị KTQT là sự kết hợp giữa các phần hành kế toán và hoạt động quản trị, giúp cho doanh nghiệp đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp. KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong các tổ chức.Việc nghiên cứu KTQT được xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau.Hilton (2011), kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chứ.
Trong khi đó, Ray H.Garrison và cộng sự (2012) cho rằng: “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức” [43]: Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L. Keith và William L.