chương 1 Nội dung của chương trình bày vai trò quan trọng của DNQĐ trong sự phát triển của đất nước; tầm quan trọng của KSNB trong doanh nghiệp; những đặc thù trong hoạt động và cả những tồn tại, hạn chế của khối DNQĐ trong những năm gần đây. Trên cơ sở đó, NCS đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu. Nội dung tiếp theo của chương, đề tài xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu để NCS luận giải, trả lời ở những chương tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là 86 doanh nghiệp trong đó có 82 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 04 công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia để xác định sự phù hợp của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất; điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức của luận án về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của KSNB trong các DNQĐ Việt Nam. Trong nghiên cứu định lượng, NCS sử dụng bảng hỏi để thu thập các thông tin và sau đó phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0; thực hiện thống kê, mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định hồi quy tuyến tính đa biến. Nội dung kế tiếp của chương, NCS đưa ra những đóng góp về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn của công trình nghiên cứu.
Nội dung cuối cùng là kết cấu của đề tài nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu về hoàn thiện kiểm soát nội bộ Nghiên cứu về hoàn thiện KSNB được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới quan tâm.
Việc lựa chọn thành phần KSNB là cơ sở để các tác giả đánh giá thực trạng KSNB và đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB tại một doanh nghiệp, một lĩnh vực nhất định. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: O’leary (2005) đã phát triển mô hình đánh giá KSNB gồm 3 thành phần: MTKS, hệ thống thông tin và TTKS; O’leary cũng nhấn mạnh vai trò của MTKS. Noorvee (2006) đã dựa vào 5 thành phần KSNB của COSO để đánh giá KSNB ở 3 công ty sản xuất tại Estonia. Kết quả cho thấy, mỗi thành phần của KSNB đều có vai trò quan trọng khác nhau trong KSNB trong đó MTKS, GS giữ vai trò quan trọng nhất trong việc lập BCTC.
Dinapoli (2007) thực hiện nghiên cứu nhằm giải thích về tầm quan trọng của KSNB đối với hoạt động làm việc hàng ngày của chính quyền Bang New York. Để đáp ứng được mục tiêu đề ra thì KSNB gồm 5 thành phần là MTKS, ĐGRR, HĐKS, TTTT, GS cùng sự hỗ trợ của 2 hoạt động đánh giá và lập kế hoạch chiến lược. Karagiorgos và cộng sự (2008) thực hiện nghiên cứu ở các tổ chức tín dụng tại Hy Lạp. Nghiên cứu dựa theo khuôn khổ COSO xây dựng KSNB gồm 5 thành phần MTKS, ĐGRR, HĐKS, TTTT, GS, kết quả chỉ ra cả 5 thành phần đều có vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM; KSNB sẽ quyết định đến sự tồn tại và thành công trong kinh doanh của các NHTM.
Tác giả Phạm Bính Ngọ (2011), “Tổ chức hệ thống KSNB trong các đơn vị dự toán trực thuộc BQP”. Tác giả tập trung vào đánh giá KSNB thông qua đánh giá MTKS, hệ thống thông tin kế toán, TTKS. Từ việc nêu lên đặc điểm hoạt động, đặc điểm tài chính, đặc điểm tổ chức quản lý của các đơn vị dự toán quân đội liên quan đến tổ chức KSNB, cùng với kinh nghiệm quốc tế về tổ chức kiểm soát ngân sách trong các đơn vị quân đội. Trên cơ sở tổng hợp tình hình chung và kết quả thu được trên 15 phiếu điều tra tại các đơn vị dự toán trực thuộc BQP, tác giả tóm tắt thành 8 Bảng với 85 câu trả lời và tiến hành phân tích kết quả điều tra, đưa ra một số nhận 9 định, đánh giá về thực trạng KSNB trong các đơn vị được điều tra.
Mặc dù chưa xây dựng mô hình NCĐL, đề tài đưa ra một số khiếm khuyết trong KSNB tại các đơn vị dự toán quân đội; xác định nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp như: “Thứ nhất: xây dựng mô hình tổ chức hệ thống KSNB tại đơn vị sự nghiệp trực thuộc BQP (đơn vị dự toán cấp II) trong quan hệ với các đơn vị dự toán cấp dưới (cấpIII và cấp IV); Thứ hai: Hoàn thiện MTKS, tập trung vào các nội dung nâng cao nhận thức của lãnh đạo chỉ huy các đơn vị; hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính; xây dựng hệ thống các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chỉ tiêu của các đơn vị phù hợp với thực tế; tăng cường việc thực hiện công khai tài chính trong các cơ quan đơn vị; tăng cường công tác kiểm tra tài chính của cơ quan thanh tra, uỷ ban kiểm tra đảng và Hội đồng Kinh tế các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong quản lý tài chính; Thứ ba: Hoàn thiện hệ thống kế toán từ chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo, xây dựng đội ngũ cán bộ TCKT ngang tầm với nhiệm vụ; Tiếp tục ứng dụng CNTT vào công tác TCKT và công tác kiểm soát, quản lý tài chính quân đội; Thứ tư: Hoàn thiện các TTKS, tăng cường kiểm soát quá trình chấp hành kỷ luật tài chính trong các đơn vị dự toán; thể chế hoá bằng văn bản quy định về KSNB ở các đơn vị; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp trong quản lý ngân sách; tăng cường các TTKS cụ thể trong quản lý tài sản ở các đơn vị. Bùi Thị Minh Hải (2012) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam”. Tác giả đã đánh giá đặc điểm chung của ngành may mặc ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của KSNB trong doanh nghiệp. Thông qua 63 phiếu khảo sát thu được với tỷ lệ trả lời 78,75% (phiếu khảo sát gửi đến 80 doanh nghiệp), tác giả đánh giá thực trạng KSNB, từ đó đưa ra các giải pháp về MTKS, hệ thống thông tin, TTKS.
Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở NCĐT để đánh giá KSNB mà chưa áp dụng NCĐL để đánh giá các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến KSNB hay tính hữu hiệu của KSNB. Samuel & Wagoki (2014) sử dụng 138 quan sát để đánh giá về vai trò của các thành phần KSNB trong các trường đại học công lập tại Kenya dựa trên khuôn khổ KSNB của COSO. Kết quả nghiên cứu cho rằng việc thiết lập KSNB sẽ giúp đạt được mục tiêu, ngăn ngừa tổn thất nguồn lực, lập BCTC đáng tin cậy và đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định. Nguyễn Thị Lan Anh (2014) nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại tập đoàn hóa chất Việt Nam”.
Tác giả đã khái quát KSNB trong các tập đoàn kinh tế, kinh nghiệm về KSNB tại một số tập đoàn kinh tế trên thế giới. Trên cơ sở tổng hợp tình 10 hình chung và kết quả thu được của 30 phiếu khảo sát tại các công ty thành viên thuộc tập đoàn, tác giả đã đưa ra thực trạng KSNB tại các đơn vị điều tra. Đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện về MTKS, hệ thống thông tin, TTKS, quy chế quản lý người đại diện tại công ty mẹ, kiểm soát vốn tại tập đoàn, một số giải pháp khác theo chủ trương tái cơ cấu tập đoàn. Tuy nhiên nghiên cứu đã dừng lại ở NCĐT để đánh giá KSNB mà chưa sử dụng NCĐL để giải quyết mối quan hệ đặt ra.
Nguyễn Tố Tâm (2014) với đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả sử dụng NCĐL để đánh giá tổ chức KSNB ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết với các biến độc lập là MTKS, hệ thống thông tin kế toán, các TTKS, năm thành lập công ty, vốn điều lệ, thời gian niêm yết; biến phụ thuộc là chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết. Theo kết quả kiểm định cho thấy tổ chức KSNB có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tài chính; MTKS có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đó là TTKS và hệ thống thông tin kế toán. Tuy nhiên nghiên cứu tiếp cận KSNB theo quan điểm truyền thống và mới chỉ đánh giá các biến độc lập tác động tới biến phụ thuộc là chất lượng thông tin kế toán tài chính.
Rababa (2014) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KSNB tại các bệnh viện tư tại Jordan đã chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa số vốn đăng ký với hiệu quả KSNB, cũng như mối quan hệ thuận chiều giữa sự quan tâm của kiểm toán độc lập về việc đánh giá định kỳ KSNB với hiệu quả KSNB. Đặng Thúy Anh (2017) thực hiện đề tài “Nghiên cứu KSNB trong các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả sử dụng cả NCĐT và NCĐL và đề xuất mô hình nghiên cứu với biến độc lập là chất lượng KSNB (MTKS, TTTT, HĐKS, ĐGRR, GS), biến phụ thuộc là ROE. Kết quả NCĐL chỉ ra chất lượng KSNB có ảnh hưởng tích cực đến ROE, từng thành phần KSNB (MTKS, TTTT, HĐKS, ĐGRR, GS) ảnh hưởng đến ROE.
Sau đó tác giả đưa ra các giải pháp để hoàn thiện KSNB bao gồm hoàn thiện MTKS, TTTT, GS, ĐGRR, HĐKS. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu biến phụ thuộc là khả năng sinh lời mà chưa chú ý đến độ tin cậy của báo cáo, tính tuân thủ pháp luật. Nguyễn Mạnh Hùng (2017) nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty 319”. Tác giả đã dựa trên quan điểm về 5 thành phần KSNB của COSO để đánh giá KSNB tại tổng công ty 319-BQP.
Đề tài đã đưa ra đặc điểm của Tổng công ty 319 ảnh hưởng đến hệ thống KSNB; sau đó đánh giá thực trạng 11 KSNB tại đơn vị nghiên cứu, cũng như đưa ra ưu điểm, hạn chế của hệ thống KSNB đó; cuối cùng là đưa ra các đề xuất để hoàn thiện MTKS, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, HĐKS tại Tổng công ty 319-BQP.