Chương 1 trình bày sơ lược các khái niệm dùng trong nghiên cứu, phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài, nhận xét về các nghiên cứu. Từ đó, chỉ ra những vấn đề mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết. Nộp thuế - nghĩa vụ tất yếu của doanh nghiệp Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN). Theo Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên (2007), nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của doanh nghiệp.
Tính tất yếu này xuất phát từ một số cơ sở như sau: - Thuế là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin. Vì vậy, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho nhà nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng. - Thuế thu từ doanh nghiệp là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ.
Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu các doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế thì đó chính là tín hiệu tích cực và có lợi đối với NSNN. - Nộp thuế của doanh nghiệp đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế và thực 6 hiện các định hướng phát triển của Nhà nước. Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp là tất yếu bởi đây là công cụ mà Nhà nước sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng. - Nộp thuế của doanh nghiệp sẽ đảm bảo tính công bằng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau.
Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tích cực đến các doanh nghiệp khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng doanh nghiệp, kích thích sự tuân thủ của đại bộ phận các doanh nghiệp còn lại, đặc biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các doanh nghiệp đang khai thác các hình thức tránh thuế. Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của các doanh nghiệp, kích thích sự tuân thủ thuế tiềm năng. Tóm lại, nộp thuế phải được các doanh nghiệp nhận thức là một nghĩa vụ tất yếu. Quản lý thu thuế của nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho các doanh nghiệp nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự tuân thủ thuế một cách đầy đủ và kịp thời.
Tại mỗi quốc gia, nghĩa vụ thuế có những quy định khác nhau: - Nghĩa vụ thuế theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) gồm có: (1) Đăng ký trong hệ thống; (2) Nộp kịp thời hoặc nộp hồ sơ thông tin cần thiết về thuế; (3) Báo cáo thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp tốt lưu trữ hồ sơ) và (4) Thanh toán các nghĩa vụ thuế đúng thời gian (OECD, 2004). - Nghĩa vụ thuế của người nộp thuế được quy định tại Điều 7 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, theo đó nghĩa vụ thuế của người nộp thuế gồm: “(1) Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. (2) Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. (3) Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời 7 hạn, đúng địa điểm.
(4) Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. (5) Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. (6) Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. (7) Cung cấp chính xác, đầy đủ kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.
(8) Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. (9) Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”. Nghĩa vụ thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo OECD không hoàn toàn giống nhau, luật Quản lý thuế quy định nghĩa vụ thuế có phần chi tiết hơn nhưng nhìn chung đều liên quan đến các nội dung: Đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai (báo cáo) thông tin và nộp thuế. Sự tuân thủ thuế Trên thế giới, có nhiều định nghĩa về tuân thủ thuế, một số tác giả đã trình bày như sau: Mohd Rzal Palil và Ahmad Feriq Mustapha (2011), đã tập hợp nhiều định nghĩa về tuân thủ thuế.
Trong đó, các tác giả Andreoni, Erard, và Feinstein (1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn sàng của người nộp thuế chấp hành luật pháp về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia. Một định nghĩa rộng hơn, được xác định vào năm 1978 của Song và Yarbrough cho rằng: Do các khía cạnh đáng chú ý của các hoạt động trong hệ thống thuế ở Hoa Kỳ và phần lớn là dựa trên tự đánh giá và tuân thủ tự nguyện, tuân thủ thuế cần được xác định như khả năng của người nộp thuế và sẵn sàng thực hiện theo quy định của pháp 8 luật về thuế được xác định bởi đạo đức, môi trường pháp lý và các yếu tố tình huống khác tại một thời điểm và địa điểm cụ thể. Tương tự như vậy, tuân thủ thuế cũng được xác định bởi một số cơ quan thuế như khả năng và sự sẵn sàng của người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế, kê khai thu nhập chính xác trong mỗi năm và thanh toán số tiền thuế phải nộp theo thời gian (IRS, 2009; ATO, 2009; IRB, 2009). Alm (1991), Jackson and Milliron (1986) và Kirchler (2007), tuân thủ thuế được định nghĩa là sự sẵn sàng của người nộp thuế thực hiện theo pháp luật về thuế, kê khai thu nhập chính xác, yêu cầu bồi thường các khoản trích đúng, cứu trợ, giảm giá và thanh toán tất cả các loại thuế kịp thời.
Theo OECD (2004), định nghĩa tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có các nghĩa vụ cơ bản sau: (1) Đăng ký trong hệ thống; (2) Nộp kịp thời hoặc nộp hồ sơ thông tin cần thiết về thuế; (3) Báo cáo thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp tốt lưu trữ hồ sơ) và (4) Thanh toán các nghĩa vụ thuế đúng thời gian. Tác giả Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) đã tổng hợp khái niệm tuân thủ thuế của một số tác giả: Jackson and Milliron (1986) và Alm (1991) cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án. Trong khi theo Hamm (1995) thì tuân thủ thuế được định nghĩa là người nộp thuế nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của tòa án.
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đã nêu: Khái niệm tuân thủ thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thuyết rằng hầu hết các doanh nghiệp về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi các lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế tuân thủ luật và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc tăng cường sự tuân thủ thuế. Nghiên cứu khái niệm tuân thủ thuế thông qua sự tập 9 trung vào sự không tuân thủ và tính cưỡng chế tuân thủ là quá đơn giản hóa.
Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Nếu doanh nghiệp tuân thủ thuế chỉ vì sự đe dọa hay trừng phạt thì đó dường như không phải là sự tuân thủ đúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành. Quản lý thu thuế thành công là hầu hết đối tượng tuân thủ thuế một cách tự nguyện mà ít cần đến sự chất vấn, điều tra, nhắc nhở hay đe dọa và các hành vi xử phạt hành chính khác. Ngoài phát triển khái niệm này, tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) và Nguyễn Minh Hà (2012) còn đưa thêm yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự tuân thủ tự nguyện.
Một doanh nghiệp cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự tuân thủ hoàn toàn. Hơn nữa, khoản thu thuế nếu bị tính lãi suất do nộp muộn cũng không xem là sự tuân thủ hoàn toàn tự nguyện.